Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên 14

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên 14. Bài viết bai thu hoach nq tw7 tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

Nhằm giúp Cả nhà làm bài thu hoạch nhanh chóng và thuận tiện nhất, Download.vn xin giới thiệu đến Anh chị 14 mẫu bài thu hoạch Nghị quyết trung ương 7 khóa XII của Đảng viên được chúng tôi tổng hợp chi tiết, đăng tải ngay sau đây.

Bạn Đang Xem: Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên 14

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên là bài thu hoạch của cán bộ, Đảng viên sau khi kết thúc hội nghị học hành, cấm đoán và triển khai thực hiện nội dung Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII của Đảng. Nội dung trong bài thu hoạch cần trả lời thắc mắc mà ban tổ chức đưa ra, từ đó nêu sự hiểu biết, kiến thức của mình để trả lời vướng mắc sao cho chính xác, súc tích và thuyết phục nhất. Việc chỉn chu nội dung bài thu hoạch sẽ giúp các Đảng viên biểu thị được sự nghiêm túc trong tác phong ăn học nội dung nghị quyết của Đảng. Sau đây là nội dung chi tiết mẫu bài thu hoạch, mời các bạn cùng đọc thêm và tải mẫu tại đây.

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Giáo viên (mẫu 01)

UBND XÃ…………. TRƯỜNG TH ……. .

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

. …. . , ngày 12 tháng 8 năm 2018

Họ và tên: ………………………………………….

Đơn vị công tác: …………………………………………

Sau khi ăn học các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII bản thân nhận thức. như sau:

I. Thực trạng:

Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thông qua các Nghị quyết quan trọng sau đây:

*Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm.

*Nghị quyết số 27-NQ/TW về cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

*Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.

– Trong 3 nội dung được ăn học và tiếp thu trên thì bản thân tôi thấy tâm đắc nhất là “Nghị quyết số 27-NQ/TW về cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức,lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”.

1. Thành tựu:

– Chính sách tiền lương là một phòng ban đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, liên quan trực tiếp đến các bằng vận lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương &o các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về Đề án cách tân chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2003 – 2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng các khoá X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI. Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được nâng cấp, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, chính sách tiền lương từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

2. Hạn chế:

– Bên cạnh kết quả đạt được, chính sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; còn mang nặng tính bình quân, không đảm bảo được cuộc sống, chưa phát huy được hào kiệt, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Quy định mức lương cơ sở nhân với hệ số không miêu tả rõ giá trị thực của tiền lương. Có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương bởi vì không ít cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý, không biểu hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ. Chưa phát huy được quyền, nghĩa vụ người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ,công chức, viên chức, người lao động.

3. Nguyên nhân:

– Những hạn chế, không ổn nêu trên có nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và chỉ số cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế. . .nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc thể chế hoá các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Số đơn vị sự nghiệp công lập tăng nhanh, số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước còn quá lớn. Việc xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức,viên chức và trả lương. Việc thanh tra, kiểm tra, gisát hại, hệ thống thông tin thị trường lao động, tiền lương, năng lực đàm phán về tiền lương của người lao động trong ký kết hợp đồng lao động và vai trò của tổ chức công đoàn trong các thoả ước lao động tập thể còn hạn chế. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền về chính sách tiền lương chưa tốt, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện một số chính sách còn chưa tạo được đồng thuận cao.

II. Những quan điểm,mục tiêu,các điểm mới,các nhiệm vụ,giải pháp đột phá thực hiện:

1. các điểm mới:

– Tiếp tục tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng

– Từ 2021, lương Nhà nước bằng lương doanh nghiệp

– Xây dựng 5 bảng lương mới theo chức vụ, vị trí việc làm

– Bổ sung tiền thưởng trong cơ cấu tiền lương

– Bãi bỏ hàng loạt phụ cấp và khoản chi ngoài lương

– Không áp dụng lương công chức với nhân viên thừa hành, phục vụ

– Tiếp tục thí điểm cơ chế tăng thu nhập cho công chức nhiều nơi

– Nhà nước không can thiệp &o tiền lương của doanh nghiệp

2. Mục tiêu:

-Từ năm 2018 đến năm 2020

a) Đối với khu vực công

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, đảm bảo không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và cho ra đời chế độ tiền lương mới theo nội dung cách tân chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cách tân hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức máy bộ của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, bản lĩnh chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cách tân chính sách tiền lương được phê duyệt.

. -Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

– Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên

chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.

– Năm 2021, tiền lương bé nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương nhỏ nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và bản lĩnh của ngân sách nhà nước.

– Đến năm 2025, tiền lương nhỏ nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương nhỏ nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Đến năm 2030, tiền lương nhỏ nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc lơn hơn mức lương bé nhất của vùng rất tốt của khu vực doanh nghiệp.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến

nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền

lương trên cơ sở thảo luận, thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp &o chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

– Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức

khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất buôn bán Thương mại của doanh nghiệp &o năm 2030.

……………..

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Giáo viên (mẫu 02)

ĐẢNG BỘ ………………….

CHI BỘ TRƯỜNG…………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………, ngày … tháng 06 năm 2018

BÀI THU HOẠCH Kết quả học hành, không cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên: ……………………..

Chức vụ: Đảng viên – Giáo viên

Chi bộ: Trường ……..

Qua ăn học các nội dung của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII bản thân đã nhận thức được những vấn đề căn bản của Nghị quyết như sau:

1. Những nội dung nhận thức sâu sắc nhất

Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thông qua các Nghị quyết quan trọng sau đây:

Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm.

Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Nghị quyết số 28-NQ/TW về cách tân chính sách bảo hiểm xã hội”.

Nội dung Nghị quyết số 26-NQ/TW là đề án lớn, rất khó và rất quan trọng. Việc xây dựng đề án lần này giống như việc chuẩn bị cho một Chiến lược cán bộ thời kỳ mới, thay thế Chiến lược cũ ra đời từ thời điểm từ thời điểm cách đó 20 năm. Mục tiêu đến năm 2030 xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục, vững &ng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại &o năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra giải pháp nhằm thực hiện nhất quán việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch UBND. Đề án cũng xác định việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ là khâu đột phá. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra dấu hiệu vi phạm của cấp dưới và kịp thời xử lý.

Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ gắn với việc học hành và làm việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, bí thư cômy các cấp; kiểm soát, quản lý tốt đội ngũ cán bộ…

Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Việc cách tân chính sách tiền lương nhằm sớm xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Hội nghị trung ương 7 khóa 12 tập trung xây dựng 2 đề án riêng, gồm đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và đề án cách tân chính sách BHXH, nhưng có tính tương quan lẫn nhau.

Về cách tân chính sách BHXH, Nghị quyết số 28-NQ/TW. Phát triển hệ thống chính sách BHXH linh động, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, “công bằng”, “đồng đẳng”, “chia sẻ” và “bền vững và kiên cố”…

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững và kiên cố đất nước.

2. Ý kiến đề xuất

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng tiên phong bậc nhất, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, kiên cố lâu dài và kiên cố. bởi vì, theo cá nhân tôi cần có các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất chuyên môn, kỹ năng tốt để góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để tác động đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc bổn phận, đồng thời tăng cường kiểm tra, gigiết hại, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức máy bộ của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực cao nhất, thu hút, trọng dụng hào kiệt.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục, vững &ng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại &o năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

………………………….

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Giáo viên (mẫu 03)

ĐẢNG BỘ ………………….

CHI BỘ TRƯỜNG…………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………, ngày 03 tháng 07 năm 2018

BÀI THU HOẠCHKết quả ăn học, không cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên: …………………………………………………….

Chức vụ: Đảng viên.

Đơn vị công tác: Trường …………………………………

1. các điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

1.1. Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục, vững &ng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại &o năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ, đến năm 2020, thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; chặn đứng và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cômy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Đến năm 2025, tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; căn bản bố trí bí thư cấp ủ ấpy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện. Đến năm 2030, xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, đảm bảo sự chuyển nhượng bàn giao thế hệ 1 cách vững &ng; căn bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

1.2. Nghị quyết số 27-NQ/TW về “cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”

Mục tiêu là xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia 1 cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, Nghị quyết nêu những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nghị quyết chỉ rõ, khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cách tân tiền lương. Xây dựng và cho ra đời chế độ tiền lương mới. Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cách tân chính sách tiền lương.

1.3. Nghị quyết số 28-NQ/TW về “cách tân chính sách bảo hiểm xã hội”.

Nghị quyết hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh an sinh an sinh xã hội, từng bước mở bao la rãi bền vững diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh động, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, đồng đẳng, chia sẻ và kiên cố và kiên cố; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

Nghị quyết nêu rõ: Tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; canh chỉnh quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng biến hóa linh động đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng-hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và kiên cố. chỉnh sửa, khắc phục các bất hợp lý về chế độ bảo hiểm hưu trí hiện giờ theo hướng biến hóa linh động hơn về điều kiện hưởng chế độ hưu trí, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế của người lao động; thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình; Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu về bảo hiểm xã hội:

2. Liên hệ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị và đề xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiện hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình

Việc ăn học, cấm đoán và tổ chức thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là tiền đề bền lâu đảm bảo cho sự thành công trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – bình yên. thế cho nên, học hành, không cho các chỉ thị, nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, là điều kiện tiên quyết đưa chủ trương của Đảng &o cuộc sống.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác không cho học hành, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong thời gian tới, tôi có những kiến nghị sau:

Một là, đổi mới nội dung, hiệ tượng tổ chức học hành, không cho nghị quyết phù hợp với điều kiện, cảnh ngộ của đối tượng, đối tượng khác nhau cần có nội dung, phương pháp truyền đạt phù hợp.

Hai là, sau mỗi đợt tổ chức học hành, cấm đoán nghị quyết, các cấp ômy cần chỉ đạo, theo dõi việc viết bài thu hoạch member.

Ba là, không được xem nhẹ việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch biện pháp động thái.

Bốn là, tiếp tục tổ chức học hành, cấm đoán nghị quyết bằng bề ngoài trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian, kinh phí và mở bao la đối tượng tham gia, đồng thời đảm bảo nâng cao chất lượng thông tin, tạo sự đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền trên báo chí và các phương tiện cổ động trực quan; đẩy mạnh gigiết hại, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình động thái, đưa hoạt động này &o nền nếp.

3. Liên hệ nghĩa vụ cụ thể của member

Là một Đảng viên, Giáo viên tôi ý thức và ân cần đến từng vấn đề mà nghị quyết Hội nghị trung ương 7 đã đề ra; đặc biệt là các nội dung ảnh hưởng đến xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.

– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ &o công tác giảng dạy, góp phần tích cực &o sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; bổ dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp.

Xem Thêm  Phạm Thành Long là ai? Diễn giả đáng kính hay ông Trùm đa cấp

– Bản thân tôi sẽ tuyên truyền sâu bao la trong quần chúng nhân dân, người thân và cán bộ những vấn đề cần thiết mà Nghị quyết đã nêu. Xác định rõ hơn nghĩa vụ của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước bằng những biện pháp động thái cụ thể: Cần xác định được bổn phận và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Luôn ăn học đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

– bàn thảo chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp tẩm bổ chuyên môn để đạt hiệu quả lơn hơn nữa trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi. Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu bát ngát nhằm hướng dẫn, phổ biến cho các giáo viên để toàn tập thể đạt được những kết quả rất chất lượng có thể.

– Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các mô tả tồi tệ hơn quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị;

NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Giáo viên (mẫu 04)

ĐẢNG BỘ ………………….

CHI BỘ TRƯỜNG…………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………, ngày … tháng 07 năm 2018

BÀI THU HOẠCHKết quả ăn học, cấm đoán Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên: ……………………..

Chức vụ: Đảng viên – Giáo viên

Chi bộ: Trường ……..

Câu 1: Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đồng chí tâm đắc nhất giải pháp nào ? Tại sao ?

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên.

2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ.

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.

4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

5. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền.

7. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.

8. Một số nội dung căn bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn nước.

Xem Thêm : Cách thổi sáo trúc ngang 6 lỗ căn bản chi tiết – Kênh iTV

Theo tôi nội dung tâm đắc nhất là:

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.

Câu 2. Nghị quyết số 27-NQ/TW về “cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”

Theo đồng chí những hạn chế , không ổn trong chính sách tiền lương bây giờ là gì ? Nguyên nhân

1. Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến các phẳng lì lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

2. Chính sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, không ổn. Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo;

3. Nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và sự cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế… nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc thể chế hoá các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. …

Câu 3: Nghị quyết số 28-NQ/TW về “cách tân chính sách bảo hiểm xã hội”.

Đồng chí hãy phân tích làm rõ một số nhiệm vụ, giải pháp nêu trong nghị quyết mà đồng chí tâm đắc.

Nghị quyết hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh an sinh xã hội, từng bước mở bát ngát vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh động, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và vững chắc và kiên cố;

Nghị quyết nêu rõ: Tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; canh chỉnh quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt

…………….

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII dành cho cán bộ xã

ĐẢNG BỘ …….CHI BỘ………………*ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM…….., ngày…tháng…năm…

BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂNVề kết quả học hành, không cho các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII)

(Đây chỉ là bài thu hoạch gợi ý. Đề nghị các đồng chí tự nghiên cứu, học hành và tham khảo để viết bài phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân mỗi đ/c. Các đ/c nộp bài thu hoạch về Đảng ủy xã &o ngày ………)

1. Đồng chí hãy cho biết sự cần thiết phải phát hành các Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy BCH Trung ương Đảng (khóa XII).

Trả lời:

– Nghị quyết 26/NQ-TW về công tác cán bộ:

Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

Từ trước đến nay, nhất là trong những nhiệm kỳ cách đây không lâu, Đảng ta luôn đon đả xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng; đã có nhiều quyết sách rất đúng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp, đạt được những kết quả quan trọng.

mới gần đây, việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, thành viên vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, chặn đứng xấu đi, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, từng bước củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi.

Cơ cấu giữa các ngành, nghề, lĩnh vực chưa thật sự hợp lý, thiếu sự liên thông giữa các cấp, các ngành; thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành.

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ; thiếu gương mẫu, chưa thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân; vướng &o tham nhũng, lãng phí, bị động, lợi ích nhóm.

Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp thiếu ý chí bổ dưỡng, rèn luyện, thậm chí lợi dụng sơ hở, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội, … chậm được chặn lại và đẩy lùi.

– Nghị quyết 27/NQ-TW về cách tân chính sách tiền lương:

Việc thể chế hóa tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường.

Chế độ tiền lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức người lao động còn thấp và có nhiều bất cập.

Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh, hiệu quả hoạt động chưa cao.

– Nghị quyết 28/NQ-TW về cách tân chính sách bảo hiểm xã hội:

Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế-xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hóa dân số và sự xuất hiện các quan hệ lao động mới.

Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, ăn lận, trục lợi bảo hiểm xã hội chậm được

khắc phục.Quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất bằng vận trong dài hạn.

Xuất phát từ những hạn chế, bất cập nêu trên mà Đảng ta cần thiết phải ra 03 nghị quyết số (26 về công tác cán bộ; số 27 về cải cách chính sách tiền lương; số 28 cải cách chính sách bảo hiểm xã hội) nhằm cấm đoán, triển khai thực hiện có hiệu quả trong công tác cán bộ, tiền lương và bảo hiểm xã hội.

2. Theo đồng chí ở vị trí công tác của mình cần làm gì để góp phần thực hiện thành công nội dung hội nghị Trung ương 7 khoá XII?

Trả lời: Liên hệ bổn phận của bản thân

Là một đảng viên, tôi nhận thức được và xác định rằng Nghị quyết số 26, 27, 28 hội nghị lần thứ Bảy BCH Trung ương Đảng khóa XII là cần thiết niềm nở đến từng vấn đề mà nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã phải cho ra đời triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện giờ và thời gian tới.

Để góp phần thực hiện tốt nội dung nghị quyết Trung ương 7 khóa XII, bản ththân mật tuyên truyền sâu bao la trong quần chúng nhân dân những vấn đề cần thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn nghĩa vụ của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới. Theo đó, tôi sẽ:

không cho sâu sắc, áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;

quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở mênh mông các bề ngoài tuyên truyền, nhân bao la những điển hình tiên tiến, các phương pháp làm sáng tạo, hiệu quả.

Tăng cường công tác học hành chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học hành, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thực hiện nghiêm túc chế độ ăn học, tẩm bổ lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới.

3. Đề xuất, kiến nghị (nếu có)

Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và chống tệ chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế và quyền hạn phải được ràng buộc với bổn phận.

bắt gặp và xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, thành viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện những biện pháp hành động sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho tệ chạy chức, chạy quyền.

Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, member sai phạm, có động thái tham nhũng trong công tác cán bộ. Cụ thể hóa để thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân gisát hại công tác cán bộ; mở mênh mông rãi rãi các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự chấp nhận của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị 1 cách phù hợp.

Như bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Để thực hiện có kết quả Nghị quyết, tất cả chúng ta, từ trên xuống dưới, đều phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, nói đi đôi với làm, làm cho Nghị quyết lần này thực sự đi &o cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt, thu được kết quả cụ thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhìn thấy được, cảm nhận được. Trong nửa cuối của nhiệm kỳ Khóa XII, cố gắng phấn đấu hoàn thành một bước việc thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ theo quy hoạch, phù hợp với tình hình thực tế; từng bước thực hiện việc bố trí bí thư côm ấp ấpy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; hoàn thành việc rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức máy bộ tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội cả nước lần thứ XIII của Đảng. Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực sự tiêu biểu về trí tuệ và gương mẫu về đạo đức, lối sống. Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi bổ, rèn luyện, thử thách đối với các Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng.

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên

ĐẢNG ỦY …………

CHI (ĐẢNG) BỘ………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

….……ngày ..tháng…năm…

BÀI THU HOẠCHdùng cho cán bộ, đảng viên tham gia học hành Nghị quyếtHội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Họ và tên: ………………………………….

Đảng viên chi bộ: …………………………

Chức vụ: …………………………………

Đơn vị công tác: …………………………

Câu hỏi: Qua ăn học Nghị quyết TW7 khóa XII bản thân đồng chí tâm đắc nhất những nội dung nào? Vì sao? Theo đồng chí ở vị trí công tác của mình cần làm gì để góp phần thực hiện thành công nội dung hội nghị Trung ương 7 khoá 12?

Trả lời:

Hội nghị trung ương 7 khoá 12 đã đàm phán cho ý kiến về các nội dung quan trọng gồm: Đề án về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Đề án về cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Đề án về cách tân chính sách bảo hiểm xã hội.

Theo đó, có 3 nghị quyết đã được thông qua tại Hội nghị trung ương 7 khoá 12, đó là:

Nghị quyết số 28-NQ/TW cách tân chính sách bảo hiểm xã hội

Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương

Nghị quyết 26-NQ/TW về công tác cán bộ

Sau khi học hành, quán triệt nội dung nghị quyết trung ương 7 khoá XII, bản thân đồng chí cảm thấy tâm đắc nhất với nội dung về canh tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp của nghị quyết 27-NQ/TW. Vì chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến các bằng phẳng lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Có thể thấy cách tân chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức và lực lượng vũ trang có nhiều nội dung canh tân mới.

Trước hết là việc bãi bỏ hệ thống bảng lương bây giờ được coi là quá phức tạp, chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo mang tính bình quân, cào bằng bằng các bảng lương mới đơn giản và phù hợp hơn, chuyển xếp lương cũ sang lương mới đảm bảo không thấp hơn mức lương hiện hưởng.

Về nội dung canh tân đối với khu vực công, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu thiết kế cơ cấu tiền lương mới gồm: Lương căn bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương). Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không gồm có phụ cấp).

Bên cạnh đó, xây dựng, phát hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; Chuyển xếp lương cũ sang lương mới, đảm bảo không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.

Với nghị quyết, đảm bảo tiền lương khu vực công sẽ tiệm cận dần và không chênh lệch với tiền lương khu vực doanh nghiệp để khu vực nhà nước có thể thu hút được nhân lực chất lượng cao có thể với chế độ tiền lương thỏa đáng.

Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và chống tệ chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế và quyền hạn phải được ràng buộc với nghĩa vụ.

bắt gặp và xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện những động thái sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho tệ chạy chức, chạy quyền.

Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành động tham nhũng trong công tác cán bộ. Cụ thể hóa để thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân gigiết hại công tác cán bộ; mở bao la các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự chấp thuận của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị 1 cách phù hợp.

Tổng Bí thư chỉ rõ: “Để thực hiện có kết quả Nghị quyết, tất cả chúng ta, từ trên xuống dưới, đều phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, nói đi đôi với làm, làm cho Nghị quyết lần này thực sự đi &o cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt, thu được kết quả cụ thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhìn thấy được, cảm nhận được. Trong nửa cuối của nhiệm kỳ Khóa XII, cố gắng phấn đấu hoàn thành một bước việc thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ theo quy hoạch, phù hợp với tình hình thực tế; từng bước thực hiện việc bố trí bí thư cômy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; hoàn thành việc rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức máy bộ tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội toàn nước lần thứ XIII của Đảng. Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực sự tiêu biểu về trí tuệ và gương mẫu về đạo đức, lối sống. Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi bổ, rèn luyện, thử thách đối với các Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng.

Liên hệ bổn phận của bản thân

Là một Đảng viên, tôi ý thức và đon đả đến từng vấn đề mà nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa 12 đã đề ra. Bản thquan tâm tuyên truyền sâu bát ngát trong quần chúng nhân dân những vấn đề cần thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn nghĩa vụ của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới. Theo đó, tôi sẽ:

Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;

Quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở bát ngát các hình thức tuyên truyền, nhân mênh mông những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Tăng cường công tác học hành chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mệnh, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học hành, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thực hiện nghiêm túc chế độ học hành, bồi bổ lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới.

Người viết thu hoạch

(Ký, ghi rõ họ và tên)

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII dành cho Công an

ĐẢNG BỘ ……….

CHI BỘ……..

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Thị trấn, ngày … tháng …. năm 20….

BÀI THU HOẠCHNghị quyết hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên: …………………………………………………

Chức vụ: …………………………………………………………

Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………….

Sau khi học hành quán triệt các Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), bản thân đã nhận thức những vấn đề các Nghị quyết như sau:

1/- Qua học hành 3 Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa (XII), nêu nhận thức của bản thân về những vấn đề căn bản, mới được nêu trong từng Nghị quyết:

* Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Nghị quyết đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cômy cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương. Đến năm 2025, cơ bản bố trí bí thư cấp ủ ấpy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch Ủy ban nhân dân, nếu có điều kiện. Đây được coi như một bước đột phá trong công tác cán bộ nhằm giảm thiểu tình trạng thiên vị, cục bộ, chạy chức, chạy quyền.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện. Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ là đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Cụ thể, sẽ đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương.Trong công tác ứng cử, bổ nhậm, bố trí cán bộ, tiếp tục thực hiện chủ trương bầu trực tiếp bí thư tại đại hội đảng bộ các cấp ở những nơi có điều kiện; ứng viên trước khi bổ nhiệm phải biểu đạt chương trình hành động và cam kết thực hiện. Nghị quyết nhấn mạnh: Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền &o đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; đồng thời, không có “vùng cấm” trong việc xử lý những sai phạm về công tác cán bộ. Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện; cách tân chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân kiệt; Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

* Nghị quyết số 27-NQ/TW về cách tân chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Xem Thêm  CPU Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ Của CPU? – Phongnet.Com

Nghị quyết 27 đã nêu ra 8 điểm mới về canh tân tiền lương. Nghị quyết nêu rõ, trong khu vực Nhà nước, giai đoạn từ năm 2018 đến 2020 sẽ tiếp tục điều chỉnh tăng lương cơ sở, đảm bảo không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề. Tuy nhiên, đến năm 2021, mức lương cơ sở sẽ hoàn toàn được bãi bỏ. Trong khu vực doanh nghiệp, thực hiện tăng mức lương tối thiểu vùng để đến năm 2020, mức lương tối thiểu đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Từ năm 2021, vẫn tiếp tục điều chỉnh lương tối thiểu vùng theo định kỳ. Xây dựng 5 bảng lương mới theo chức vụ, vị trí việc làm; Bổ sung tiền thưởng trong cơ cấu tiền lương; Bãi bỏ hàng loạt phụ cấp và khoản chi ngoài lương; Không áp dụng lương công chức với nhân viên thừa hành, phục vụ; Không áp dụng lương công chức với nhân viên thừa hành, phục vụ.

Việc cách tân chính sách tiền lương nhằm sớm xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

* Nghị quyết số 28-NQ/TW về chính sách cách tân BHXH

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền lâu và kiên cố đất nước.

canh tân chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính thúc bách, vừa mang tính lâu dài. chính vì như vậy để cách tân chính sách BHXH cần thực hiện đồng bộ các nội dung canh tân để mở bao la diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; bảo đảm phẳng phiu Quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn, điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ.

2/- Qua ăn học quán triệt liên hệ thực tiễn của ngành, địa phương, đơn vị mình đã thực hiện:

* Những kết quả đạt được:

– Trong thời gian qua, cômy chính quyền địa phương đã đon đả trong việc sắp xếp tổ chức máy bộ của hệ thống chính trị, đưa ra nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch ảnh hưởng công tác sắp xếp, bố trí, trọng dụng cán bộ có tài &o các công việc phù hợp với sở trường, nhiệm vụ. Kịp thời tổ chức thanh tra, kiểm tra cán bộ vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

– Đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bổ dưỡng và luân chuyển cán bộ theo các hướng: Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu &o công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực.

– Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ; thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; chặn đứng và đẩy lùi có hiệu quả những tồi tệ hơn, tham nhũng trong công tác cán bộ.

– Công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của canh tân chính sách tiền lương, cải cách chính sách BHXH đã được tuyên truyền sâu rộng đến những tầng lớp nhân dân.

* Những hạn chế:

Việc sắp xếp cán bộ tại địa phương có sự nể nang, sắp xếp công việc trái nghề, trái chuyên môn còn xảy ra. Việc bố trí biên chế chưa phù hợp đối với một số ngành, đoàn thể dẫn đến chất lượng hoạt động công việc chưa cao.

Tổ chức máy bộ của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp…

3/- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp thực hiện ở ngành, địa phương, đơn vị công tác; nghĩa vụ cụ thể của cá nhân trong thực hiện và tuyên truyền, vận động nhân dân cùng thực hiện:

Là một cán bộ……….., tôi ý thức và đon đả đến từng vấn đề mà nghị quyết 26-NQ/TW trong hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã đề ra. Bản thnhiệt tình tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân, giáo viên và học sinh những vấn đề cần thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn nghĩa vụ của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức máy bộ của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả bằng những động thái cụ thể:

– Luôn luôn giữ vững quan điểm, lập trường tư tưởng vững &ng, bền chí mục tiêu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. học hành và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;

– Cần xác định được nghĩa vụ và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

– Chấp hành độngệc phân công, điều động công tác khi sắp xếp tổ chức, bộ máy theo các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW.

– Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của đảng pháp luật Nhà nước, vận động gia đình và người thân thực hiện tốt các quy định của địa phương nơi cư trú, thực hiện tốt lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến đóng góp đồng chí trong đơn vị;

– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ &o công tác quản lí và giảng dạy, góp phần tích cực &o sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; bồi bổ đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất của nhà giáo;

– Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các mô tả bị động quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị.

– hội đàm chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi bổ chuyên môn để đạt hiệu quả lơn hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi, niềm nở với công cuộc đổi mới giáo dục, định hướng phát triển học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức, là tấm gương cho học sinh noi theo.

Xác nhận của chi bộ

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch Nghị quyết trung ương 7 khóa 12 dành cho cán bộ công chức, viên chức – Mẫu 01

ĐẢNG BỘ XÃ…

CHI BỘ……………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

.……, ngày……tháng …..năm 2018

Xem Thêm : Rất Hay: 028 Đổi Thành Gì – Thông Tin Về Quyết Định Chuyển Đổi

BÀI THU HOẠCHhọc hành Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII)

Họ và tên: ……………………………

Chức vụ: …………………………….

Sau khi học tập Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) qua sóng trực tiếp của Đài PT-TH Quảng Bình. Tôi nhận thấy:

1. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Công tác cán bộ đã bgiết hại các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi &o nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công tác đào tạo, bồi bổ và cập nhật kiến thức mới được ân cần, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, gigiết hại, bảo vệ chính trị nội bộ được nhiệt tình thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và chặn lại xấu đi, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng &o tham nhũng, lãng phí, tồi tệ hơn, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy Brand Name, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được chặn lại, đẩy lùi. Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, không ổn, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng bản chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi bổ cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là người địa phương, trong đó có bí thư cấp ômy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có khắp cơ thể nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tồi tệ hơn. Chủ trương thu hút nhân kiệt chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm. Việc kiểm tra, gisát hại thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn thụ động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức cỗ máy thiếu ổn định. Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa cân xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức máy bộ cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Nhận thức và ý thức bổn phận của một số cấp ủ ấpy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.

– Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm.

– Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ.

– Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc nghĩa vụ, với tăng cường kiểm tra, gisát hại và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những bị động trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, gigiết hại và xử lý vi phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, đon đả đúng mức.

– Chưa phát huy đầy đủ vai trò gisát hại của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, nghĩa vụ của các đơn vị truyền thông, báo chí.

– Chức năng, nhiệm vụ của những đơn vị tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa đon đả đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ.

* Những điểm mới, gồm có

  • Một là, Bố trí cấp ômy cấp tỉnh, huyện không phải người địa phương
  • Hai là, Đánh giá cán bộ thông qua khảo sát, so sánh
  • Ba là, Lãnh đạo cấp trên phải từng trải qua vị trí chủ chốt cấp dưới
  • Bốn là, Xây dựng từ chức, từ nhiệm phải trở thành nếp văn hóa
  • Năm là, Mở rộng thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo
  • Sáu là, Tiến tới xóa bỏ biên chế suốt đời
  • Bảy là, Kiên quyết không để lọt người chạy chức, chạy quyền
  • Tám là, Cải cách tiền lương, nhà ở để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc

* Về quan điểm, gồm 5 quan điểm sau:

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, vững chắc và kiên cố.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để liên quan đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc nghĩa vụ, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

– Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức cỗ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực cao nhất, thu hút, trọng dụng nhân tài.

– Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm thống trị và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, bổn phận cá nhân và tập thể.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cômy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa &o nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

* Về mục tiêu cụ thể, gồm 3 giai đoạn

– Đến năm 2020: Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cômy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức máy bộ tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

– Đến năm 2025: Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; Cơ bản bố trí bí thư cômy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

– Đến năm 2030: Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có tốt nhất, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển nhượng bàn giao thế hệ 1 cách vững &ng; Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

* Về giải pháp

  • Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
  • Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới
  • Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ
  • Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền
  • Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ
  • Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ
  • Một số nội dung cơ bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn nước

2. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, liên quan trực tiếp đến các bằng vận lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương &o các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2003 – 2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng các khoá X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI. Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, chính sách tiền lương từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Bên cạnh kết quả đạt được, chính sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; còn mang nặng tính bình quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa phát huy được nhân kiệt, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Quy định mức lương cơ sở nhân với hệ số không biểu đạt rõ giá trị thực của tiền lương. Có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương bởi vì không ít cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý, không bộc lộ rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ. Chưa phát huy được quyền, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Những hạn chế, bất cập nêu trên có nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và chỉ số cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế… nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc thể chế hoá các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Số đơn vị sự nghiệp công lập tăng nhanh, số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước còn quá lớn. Việc xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và trả lương. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, hệ thống thông tin thị trường lao động, tiền lương, năng lực điều đình về tiền lương của người lao động trong ký kết hợp đồng lao động và vai trò của tổ chức công đoàn trong các thoả ước lao động tập thể còn hạn chế. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền về chính sách tiền lương chưa tốt, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện một số chính sách còn chưa tạo được đồng thuận cao.

Xem Thêm  Văn mẫu lớp 9: Nghị luận xã hội về lòng yêu nước 3 … – Download.vn

* Những điểm mới, gồm có

  • Tiếp tục tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng
  • Từ 2021, lương Nhà nước bằng lương doanh nghiệp
  • Xây dựng 5 bảng lương mới theo chức vụ, vị trí việc làm
  • Bổ sung tiền thưởng trong cơ cấu tiền lương
  • Bãi bỏ hàng loạt phụ cấp và khoản chi ngoài lương
  • Không áp dụng lương công chức với nhân viên thừa hành, phục vụ
  • Tiếp tục thí điểm cơ chế tăng thu nhập cho công chức nhiều nơi
  • Nhà nước không can thiệp &o tiền lương của doanh nghiệp

* Về quan điểm chỉ đạo, gồm 5 quan điểm

– Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; tác động, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển vững bền.

– Cải cách chính sách tiền lương phải bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương hiện hành; tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và nguồn lực của đất nước.

– Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả buổi giao lưu của hệ thống chính trị.

– Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu là mức sàn nhỏ nhất để bảo vệ người lao động yếu thế, đồng thời là một trong những căn cứ để thoả thuận tiền lương và điều tiết thị trường lao động. Phân phối tiền lương dựa trên kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh thương mại Thương mại, bảo đảm mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

– Cải cách chính sách tiền lương là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; liên quan cải cách hành chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả buổi giao lưu của các đơn vị sự nghiệp công lập.

* Về mục tiêu cụ thể

(1) Từ năm 2018 đến năm 2020

a) Đối với khu vực công

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

(2) Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

a) Đối với khu vực công

– Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.

– Năm 2021, tiền lương nhỏ nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương nhỏ nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

– Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng chất lượng cao của khu vực doanh nghiệp.

b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp &o chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

– Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất buôn bán của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Thương mại của doanh nghiệp &o năm 2030.

* Về giải pháp, gồm 7 giải pháp cơ bản:

– Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận cao ở các cấp, các ngành, những đơn vị, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách tiền lương.

– Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương

– Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới

– Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương

– Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII và các đề án đổi mới, cải cách trong các ngành, lĩnh vực có ảnh hưởng là công việc rất quan trọng để cải cách chính sách tiền lương một cách đồng bộ

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

3. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn đon đả lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện chính sách phúc lợi an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển vững bền đất nước, mô tả tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đã tích cực triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội, bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế. Chính sách bảo hiểm xã hội đã từng bước khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống phúc lợi phúc lợi xã hội, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một trong những phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp gỡ phải những rủi ro trong cuộc sống.

Quỹ bảo hiểm xã hội đã trở thành quỹ phúc lợi lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia bảo hiểm xã hội. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, số người tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, số người được hưởng bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên.

Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội từng bước được đổi mới, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được nâng lên; việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ.

Tuy nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hóa dân số và sự xuất hiện các quan hệ lao động mới. Việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn dưới mức tiềm năng; độ bao phủ bảo hiểm xã hội tăng chậm; số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội chậm được khắc phục. Quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương), còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thỏa đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều điểm bất cập. Các chế độ bảo hiểm xã hội chưa diễn tả đầy đủ các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên bởi vì nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số củ ấpy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo thiếu quyết liệt. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước hiệu quả thấp; tính tuân thủ pháp luật chưa cao. Nhận thức của một bộ phận người lao động, người sử dụng lao động về vai trò, mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn bất cập. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa thật sự tạo được sự tin cậy để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

* Về những điểm mới, bao gồm:

  • Một là, đóng bảo hiểm 10 – 15 năm cũng được hưởng lương hưu
  • Hai là, sẽ giảm quyền lợi nếu hưởng bảo hiểm xã hội một lần
  • Ba là, tăng tuổi nghỉ hưu từ năm 2021
  • Bốn là, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
  • Năm là, Thiết kế các gói bảo hiểm xã hội tự nguyện ngắn hạn

* Về Quan điểm chỉ đạo: gồm 5 quan điểm

– Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

– Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cần kíp, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm phúc lợi xã hội.

– Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự bằng lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.

– Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cômy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

* Về mục tiêu cụ thể: được chia làm 3 giai đoạn

– Giai đoạn đến năm 2021: Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỷ lệ giao dịch điện tử đạt 600%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ ưng ý của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.

– Giai đoạn đến năm 2025: Phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ chấp nhận của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 85%.

– Giai đoạn đến năm 2030: Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ bằng lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%.

* Về giải pháp: gồm 5 giải pháp chính

– Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

– Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

– Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

4. Liên hệ về trách nhiệm cá nhân

– Tuyên truyền sâu rộng trong toàn thể cán bộ viên chức của đơn vị và nhân dân về tầm quan trọng đặc biệt của các nghị quyết của hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII.

– Nâng cao nhận thức của cán bộ viên chức trong đơn vị trong việc học tập, tiếp thu nghị quyết để vận dụng &o công việc của đơn vị.

– Triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung của nghị quyết bằng các kế hoạch, bước đi cụ thể

– Tổng kết, rút kinh nghiệm các tháng, hàng quý, hàng năm trong việc triển khai thực hiện nghị quyết.

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của cán bộ chủ chốt

ĐNG BTNH ………ĐNG Y …………………

ĐNG CNG SN VIT NAM

BÀI THU HOẠCH Kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

(do Đảng ủy …………….. tổ chức &o ngày ……………. )

Họ và tên: ……………………………………

Chức vụ: ……………………………………

Đơn vị công tác: ……………………………

Thực hiện chỉ đạo của Cômy Chi bộ về việc viết bài thu hoạch sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá XII) của Đảng, bản thân tôi rút ra một số nội dung sau:

1. NHỮNG NỘI DUNG NHẬN THỨC SÂU SẮC NHẤT

Sau khi học tập Nghị quyết trung ương 7 khóa XII của Đảng, bản thân tôi đã nhận thức về những vấn đề cơ bản từ những chuyên đề được học tập và rút một số vấn đề từ Nghị quyết đối với thực tiễn của bản thân trong quá trình thực thi nhiệm vụ của bản thân, cụ thể như sau:

Nghị quyết TW7 khóa XII của Đảng gồm các Nghị quyết:

– Nghị quyết 26-NQ/TW: Đổi mới, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.

– Nghị quyết 27-NQ/TW: Cải cách chính sách tiền lương.

– Nghị quyết 28-NQ/TW: Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Qua học tập Nghị quyết trung ương 7 khóa 12 bản thân nhận thức sâu sắc và đồng ý với những nội dung của hội nghị đưa ra, tuy nhiên bản thân đon đả sâu sắc nhất nội dung bàn về vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ của Nghị quyết 26-NQ/TW. Đây là vấn đề rất lớn, rất quan trọng nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm, có thúc đẩy đến những vấn đề cơ bản về phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Đổi mới hệ thống chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế; về quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội; liên quan đến quyền lợi, tâm tư, tình cảm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động… Việc đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động vui chơi của các đơn vị sự nghiệp công lập là hết sức cần thiết, có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và nhân văn sâu sắc, góp phần &o sự nghiệp phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Nghị quyết đặt ra yêu cầu hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội phải được đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lặp… Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; còn tình trạng biện hộ, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ.

Trong nội dung Chương trình hành động của cấp ủy thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng khóa XII gồm các nội dung:

– Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ;

– Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp;

– Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; và một số vấn đề quan trọng khác.

Đây là những nội dung xuất phát từ yêu cầu cấp thiết và cần thiết đối với toàn quốc nói chung và cấp ủy nói riêng. Tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung trên, vì nó đáp ứng được nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống, kinh tế cũng như đảm bảo việc làm cho nhân dân cả nước. Theo tôi, trước những giải pháp mà hội nghị đưa ra cần tập trung nhiệm vụ giải pháp là: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp. Cấp lãnh đạo cần nhiệt tình sâu sắc hơn nữa đến cuộc sống bây giờ của nhân dân, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số để họ là một phần đóng góp &o thực hiện thành công mà nội dung hội nghị đưa ra.

2. LIÊN HỆ BẢN THÂN, ĐƠN VỊ VÀ ĐỀ XUẤT

Là một cán bộ ……………………………………., tôi ý thức và ân cần đến từng vấn đề mà nghị quyết Đại hội XII đã đề ra; đặc biệt là các nội dung liên quan đến xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bản thân cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, người thân và cán bộ những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước bằng những hành động cụ thể: Cần xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ &o công tác, góp phần tích cực &o sự nghiệp tổ chức xây dựng Đảng; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn .

– Chấp hành việc phân công, điều động công tác khi sắp xếp tổ chức, bộ máy theo các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW.

….…………………………………………………………..

….…………………………………………………………

….…………………………………………………………..

3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

….…………………………………………………………..

….…………………………………………………………..

….…………………………………………………………..

….…………………………………………………………..

Người viết bài thu hoạch(Ký và ghi rõ họ tên)

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *