Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với sự

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với sự. Bài viết nghiep hoa xa hoi chu nghia tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

TS. Nguyễn Minh Đức

Bạn Đang Xem: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với sự

Xem Thêm : Size 90 cho bé bao lăm kg? Ký hiệu số trong bảng size áo quần

Một đặc điểm nổi bật trong lịch sử phát triển hàng ngàn nǎm của dân tộc ta là công cuộc dựng nước luôn luôn gắn liền với công cuộc giữ nước. bao hàm đặc điểm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên vấn đề có tính quy luật: xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập. Người đã có công nâng truyền thống quý báu ấy lên ở tầm cao mới, khiến cho sức mạnh tổng hợp của dân tộc, quốc gia Việt Nam – một nước đất không bát ngát, người không đông chiến thắng đế quốc lớn và đang vững bước trên con đường xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đã chỉ dẫn cho Đảng ta trong việc hoạch định những đường lối, chủ trương, chính sách trong những nǎm miền Bắc bước &o thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công nghiệp hoá, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. giờ đây, khi cả nước bước &o thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, vǎn minh”, trong toàn cảnh thế giới diễn biến rất phức tạp, các thế lực thù địch âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, thì hơn lúc nào hết, việc nghiên cứu, ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội với bảo vệ Tổ quốc là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. I- Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc tất yếu tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong ngụ ý của Người,độc lập dân tộc không phải là mục tiêu cuối cùng, mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải được đẩy tới chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội không chỉ là xu thế chung của thời đại, mà còn chính bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mới đảm bảo giữ vững được thành quả cách mệnh dân tộc dân chủ nhân dân, mới giải phóng được con người và mới có độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự. Người chỉ rõ quan điểm đường lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội là: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội; biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà là không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân”1. hàm ý này biểu lộ tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm rõ bản tính của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội có khả nǎng thực hiện quyền làm chủ chân chính của nhân dân lao động, đem lại tự do, hạnh phúc thật sự cho mọi người. Hồ Chí Minh cho rằng, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thật sự là 1 cuộc cách mệnh làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Từ đặc điểm, tính chất của cách mệnh Việt Nam, Người xác định con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình khó khǎn, phức tạp và lâu dài. Đó là quá trình kết hợp hai mặt: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, lấy xây dựng làm nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài. Người nêu rõ: “xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người,không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, và hạnh phúc”2, và “cách mệnh xã hội chủ nghĩa là 1 cuộc biến đổi khó khǎn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn nǎm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ kẻ thống trị bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới, không có bóc lột áp bức…”3. ý niệm trên cho thấy việc xây dựng một xã hội mới bao giờ cũng khó khǎn, phức tạp hơn việc đánh đổ chế độ xã hội cũ đã lỗi thời. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một cuộc đấu tranh ách thống trị và đấu tranh dân tộc gay go và phức tạp. Đó là biểu hiện của cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong điều kiện nhân dân ta vừa hoàn thành căn bản cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ lỡ chế độ tư bản chủ nghĩa và trong hoàn cảnh nước ta đang bị chia cắt làm hai miền. Người nhấn mạnh: “Bên cạnh đó nhận định sự có thể ngǎn ngừa chiến tranh, chúng ta phải cảnh giác đối với âm mưu của bọn gây chiến; vì chỉ nghĩa đế quốc hãy còn, thì còn có nguy cơ chiến tranh… Dường như nhận định có khả nǎng thực hiện thống nhất bằng phương pháp hoà bình ở Việt Nam ta, chúng ta nên phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ 1/2 đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh; chính vì chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cờ hoà bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác”4. Điều đó đặt ra yêu cầu có tính nguyên tắc của cuộc cách mệnh xã hội chủ nghĩa ở nước tà là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với bảo vệ Tổ quốc. Trong hàm ý của Hồ Chí Minh, xây dựng và bảo vệ đất nước tuy là hai lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có những đặc điểm riêng, quy luật riêng của nó, nhưng xét về mục đích và bản chất, hai nhiệm vụ ấy đều có cái chung, cái thống nhất. Ngay từ những ngày đầu của công cuộc kháng chiến kiến quốc, trong thư “Gửi nông gia Việt Nam” ngày 7-12-1945, Người đã vạch rõ mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, xây dựng đất nước với bảo vệ đất nước. Hồ Chí Minh viết: “Vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng. Chiến sĩ ra sức giữ gìn nước non. Nhà nông ra sức giúp đỡ chiến sĩ. hai bên công việc khác nhau, nhưng thật ra là hợp tác. chính bới hai bên đều có công với dân tộc, đều là anh hùng”5. Với tinh thần ấy trong bài viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 33 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1963) Người khẳng định: “Miền Bắc phải vừa ra sức đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vừa phải luôn luôn nâng cao quýnh giác, củng cố quốc phòng, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu của kẻ địch. Mỗi người dân phải là một người lao động hǎng hái, đồng thời là một chiến sĩ dũng cảm vừa xây dựng nước nhà, vừa bảo vệ Tổ quốc”6. Tư tưởng trên của Hồ Chí Minh chỉ ra yêu cầu phải biết kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; phải bảo vệ ngay trong xây dựng hay xây dựng phải biết tự vệ. Đó là sự áp dụng sáng tạo luận điểm nổi tiếng của Lênin về tính tất yếu của quy luật “Bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc” &o điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Những tư tưởng chỉ thấy nhiệm vụ xây dựng kinh tế mà xem nhẹ nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, hay trái lại chỉ nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên mà không thấy nhiệm vụ xây dựng kinh tế là quan trọng, đều là những nhận thức lệch lạc, chủ quan, cục bộ như Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán. II. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa tạo ra sức mạnh mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh chỉ rõ, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là “con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”7. Theo Người, muốn chuyển đổi Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, vǎn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến, xoá bỏ triệt để những nếp sống lạc hậu và những thành kiến hủ tục phong kiến thì nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Ngay từ đầu nǎm 1960, trong bài “Con đường phía trước” Hồ Chí Minh đã viết: “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tǎng lên gấp trǎm nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường. Muốn có nhiều máy móc thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu… Đó là con đường phải đi của chúng ta. Con đường công nghiệp hoá nước nhà”8. Người xác định quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà cũng là quá trình đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, “nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng”. ngụ ý này chỉ ra tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời khẳng định những thành tựu của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa sẽ liên quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội, quốc phòng, bảo mật an ninh… Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những ảnh hưởng ấy, theo Hồ Chí Minh được biểu hiện trên hai phương diện: vật chất, kỹ thuật và chính trị, tinh thần. Trước hết, Người nhấn mạnh những thành quả của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đã trực tiếp góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi những tầng lớp nhân dân lao động. Trong công bố đọc tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (tháng 3 nǎm 1964), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong 10 nǎm qua miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc, Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới” 9, và “Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh nǎm mà vẫn quanh nǎm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ǎn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ”10. Những thành tựu ấy đã làm cho nền tảng chính trị, tinh thần của xã hội, của khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh, lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, niềm tin &o đường lối và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố bền vững và kiên cố. Điều đó ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng tiềm lực rộng lớn về chính trị – tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Mặt khác, theo Hồ Chí Minh, quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa sẽ cung cấp cho lực lượng vũ trang, Quân đội nhân dân những công dân kiểu mẫu, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Đó là lớp người Việt Nam mới có phẩm chất, đạo đức tốt, hǎng say lao động sáng tạo, có tri thức tiên tiến và tính tổ chức kỷ luật cao. Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam (24-3-1961), Người khẳng định: “Phong trào thi đua yêu nước làm nảy nở ra nhiều thanh niên tích cực và tiên tiến ở các ngành, các nghề”11. Đó là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện bộ chếi, đẩy mạnh xây dựng chính quy, sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Theo Hồ Chí Minh, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra một nền sản xuất lớn tiên tiến, có cơ cấu công – nông nghiệp hiện đại. Công, nông nghiệp cùng phát triển thì dân giàu, nước mạnh. Nó sẽ tạo ra sự đảm bảo của đất nước cho quân đội, cho nền quốc phòng toàn dân về vũ khí, trang bị kỹ thuật, hậu cần ngày càng cao. Đồng thời, nó cũng giúp cho việc xây dựng, phát triển ngành công nghiệp quốc phòng có thể tự lực giải quyết nhiệm vụ, khai thác, sửa chữa và sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các lực lượng vũ trang, của Quân đội nhân dân. Tư tưởng trên của Người chỉ ra yêu cầu đối với các lực lượng quốc phòng phải biết tận dụng những thành quả của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa để xây dựng và phát triển phù hợp những đòi hỏi của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. III- Các lực lượng vũ trang, Quân đội nhân dân phải tích cực tham gia &o quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Theo Hồ Chí Minh, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là sự nghiệp của toàn dân. Muốn công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa thắng lợi, thì phải huy động lực lượng của mọi người, mọi ngành tham gia. Người nêu rõ, trong kháng chiến, Đảng ta đề ra khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, thì ngày nay trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, khẩu hiệu của chúng ta là “Tất cả phục vụ sản xuất”. Do đó, “Tất cả chúng ta, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải góp sức làm cho sản xuất phát triển. Chúng ta phải phấn đấu cho nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và bền vững và kiên cố… Chúng ta phải phấn đấu cho nền công nghiệp mau lớn mạnh, cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa thành công”12. Cǎn cứ &o chức nǎng, nhiệm vụ của Quân đội ta – một đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, ngay khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc mới bắt đầu, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quân đội ta có hai nhiệm vụ chính: “- Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà… – Hai là, tích cực tǎng gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng và củng cố hậu phương”13. Trong quan niệm của Người, “Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau vì đều nhằm làm cho quân đội ta ngày càng mạnh, miền Bắc ngày càng vững chắc”. Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quân đội ta vừa phải làm tốt chức nǎng, nhiệm vụ cơ bản của mình là bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ môi trường hoà binh, ổn định chính trị của quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, vừa phải là lực lượng trực tiếp tham gia công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Đó là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ truyền thống và bản chất cách mạng của quân đội ta. Ngay trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, khi nói chuyện với Hội nghị cán bộ Cung cấp toàn quân lần thứ 1, tháng 9-1951, Hồ Chí Minh đã xác định: “các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chǎn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính, nhưng phải cố sức tǎng gia. bộ chếi đánh thắng giặc, thu được nhiều chiến lợi phẩm, đấy cũng là tǎng gia “14. Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, bước &o giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định, các lực lượng vũ trang, quân đội nhân dân phải là lực lượng xung kích, đi đầu trong quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Đến thǎm Nông trường quân đội An Khánh (10-1-1959), Người yêu cầu: “Nông trường quân đội cũng như nông trường quốc doanh phải đi đầu trong sản xuất nông nghiệp, phải thi đua làm gương mẫu trong nhân dân, và chú ý giúp đỡ nhân dân. Nông trường phải làm thế nào cho mức thu hoạch chẳng những đủ chi phí cho nông trường mà còn có nhiều lãi nữa”15, Người cũng cǎn dặn cán bộ, chiên ssĩ trong ngành kỹ thuật phải “thi đua tìm tòi nghiên cứu, phát huy sáng kiến mới, mục đích là làm cho công việc: nhanh, nhiều, tốt, rẻ” 16 vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo yêu cầu chính trị và quốc phòng. Quan niệm trên của Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội, củng cố tiềm lực quốc phòng phải luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và nó là một phòng ban không thể tách rời của toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những tư tưởng của Người về quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đến nay vẫn còn ổn định giá trị. Nắm vững và ứng dụng tư tưởng trên của Hồ Chí Minh là góp phần thiết thực &o thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.

Xem Thêm  5 phút đi tìm lời giải đáp “Bảo hiểm Chubb Life có lừa đảo không”

NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2 ngàn

Xem Thêm : Phản ứng màu Biure là gì – Đại Học buôn bán & Công Nghệ Hà Nội

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr.588. 2. Sđd., t.9, tr. 447. 3. Sđd, t.8, tr.493. 4. Sđd., t.8, tr. 155-156. 5. Sđd., 1995, t.4, tr. 114. 6. Sđd., 1996, t.11, tr. 22. 7,8. Sđd., 1996, t.10, tr. 41. 9. Sđd., 1996, t.11, tr. 10. Sđd., 199 11. Sđd., t.10, tr. 307. 12. Sđd., 1996, t.10, tr. 312. 13. Sđd., 1996, t.9, tr. 140. 14. Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nghiên cứu, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr. 174. 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr. 303. 16. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr. 269.

Xem Thêm  TẠI SAO LẠI CÓ CÁI TÊN NGA NGỐ ?! – Chợ Đất

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *