35 CÂU HỎI TÌNH HUỐNG, 33 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM PHÁP

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa 35 CÂU HỎI TÌNH HUỐNG, 33 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM PHÁP. Bài viết thuc nao duoi day tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

35 CÂU HỎI TÌNH HUỐNG, 33 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM PHÁP LUẬT VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ

Bạn Đang Xem: 35 CÂU HỎI TÌNH HUỐNG, 33 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM PHÁP

I. Tìm hiểu một số quy định pháp luật về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội

A. TRẮC NGHIỆM

1. Trưng cầu ý dân được thực hiện trên nguyên tắc nào?

a. đảm bảo để Nhân dân trực tiếp biểu hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.

b. Thực hiện nguyên tắc phổ thông, đồng đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín khi trưng cầu ý dân.

c. Việc trưng cầu ý dân phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định.

d. Cả 3 nguyên tắc trên.

(Điều 4 Luật trưng cầu ý dân)

2. Từ độ tuổi nào công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân?

a. Từ đủ 17 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân.

b. Từ 18 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân.

c. Từ đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân.

d. Từ 20 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân.

(Khoản 2 Điều 4 Luật trưng cầu ý dân)

3. Nội dung nào sau đây không được trưng cầu ý dân?

a. Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp.

b. Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an toàn, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia.

c. Vấn đề đặc biệt quan trong về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.

d. Tất cả 3 vấn đề trên.

(Điều 6 Luật trưng cầu ý dân)

4. Ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân là ngày nào?

a. Ngày thứ bảy.

b. Ngày chủ nhật.

c. Bất cứ ngày nào do Ủy ban thường vụ Quốc hội chọn.

(Điều 8 Luật trưng cầu ý dân)

5. biện pháp hành động nào dưới đây bị Luật trưng cầu ý dân nghiêm cấm?

a. Tuyên truyền, đưa thông tin sai lệch về nội dung, ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân.

b. Giả mạo giấy tờ, ăn gian hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân.

c. Vi phạm quy định về bỏ phiếu, kiểm phiếu.

d. Cả 3 động thái trên.

(Điều 13 Luật trưng cầu ý dân)

6. Trưng cầu ý dân được xem xét, quyết định khi có bao lăm đại biểu Quốc hội kiến nghị?

a. Ít nhất là 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội trở lên kiến nghị.

b. Ít nhất là 1/2 tổng số đại biểu Quốc hội trở lên kiến nghị.

c. Ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội trở lên kiến nghị.

d. Ít nhất là 3/4 tổng số đại biểu Quốc hội trở lên kiến nghị.

(Khoản 2 Điều 14 Luật trưng cầu ý dân)

7. Cơ quan nào có thẩm quyền xem xét, quyết định trưng càu ý dân?

a. Chủ tịch nước.

b. Chính phủ.

c. Quốc hội.

d. Tòa án nhân dân tối cao.

(Điều 17 Luật trưng cầu ý dân)

8. Trường hợp nào dưới đây Phiếu trưng cầu ý dân không hợp lệ?

a. Phiếu đánh dấu nhiều hơn một phương án được chọn theo quy định.

b. Phiếu bỏ trống tất cả các phương án.

c. Phiếu có viết thêm nội dung khác.

d. Cả 3 phiếu trên đều không hợp lệ.

(Điều 41 Luật trưng cầu ý dân)

9. Cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ khi đáp ứng điều kiện nào dưới đây ?

a. Khi có ít nhất 1/2 tổng số cử tri cả nước có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu.

b. Khi có ít nhất 2/3 tổng số cử tri toàn quốc có tên trong danh sách cử tri đi bỏ thăm.

c. Khi có ít nhất 3/4 tổng số cử tri toàn quốc có tên trong danh sách cử tri đi bỏ thăm.

d) Khi có ít nhất 4/5 tổng số cử tri cả nước có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu.

(Điều 44 Luật trưng cầu ý dân)

B. TÌNH HUỐNG

1. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân?

Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội là một trong những quyền chính trị quan trọng của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, thực hiện phương châm mọi công việc của Nhà nước, của xã hội “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội là quyền của công dân tham gia đàm đạo &o các công việc chung của đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi toàn nước và trong từng địa phương; quyền kiến nghị với các đơn vị nhà nước về xây dựng cỗ máy nhà nước và xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội…

Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân Việt Nam đã bộc lộ thực chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ:

“1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia tranh ôm đồm và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở,địa phương và toàn nước.

2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, bình luận ý kiến, kiến nghị của công dân.”

Như vậy, mọi công dân Việt Nam, đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, đều có quyền tham gia vào việc xây dựng, bảo vệ và quản lý đất nước. Đây là một quyền chính trị rất đặc biệt, là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân tham gia &o buổi giao lưu của cỗ máy nhà nước, nhằm động viên phát huy sức mạnh của toàn dân, toàn xã hội &o việc xây dựng nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu quả vì lợi ích của nhân dân.

2. Lý A Mỷ muốn tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã nhưng bị chồng là A Tráng gạt đi với lý do: “ Là đàn bà con gái, lại là người dân tộc thiểu số, ai cho tham gia quản lý nhà nước . Thôi bỏ đi, làm hòa giải viên ở bản Tà Pua này là đủ rồi”. A Mỷ băn khoăn không biết pháp luật quy định như thế nào về quyền đồng đẳng trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đều có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, có quyền bầu cử, ứng cử &o Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật, có quyền gigiết hại buổi giao lưu của cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước…

Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định

“1. Công dân nam, nữ đồng đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

Cũng theo quy định tại Điều 27, Điều 28Hiến pháp năm 2013 thì công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử &o Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia luận bàn và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở,địa phương và toàn quốc. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Nhà nước ban hành Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định cách thức thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân của công dân.

3. Được sự tín nhiệm của người dân, bà X – chi hội trưởng Chi hội phụ nữ thôn đã được bầu &o Hội đồng nhân dân xã. Bà rất vui mừng nhưng cũng lo lắng, băn khoăn không biết với tư cách là đại biểu Hội đồng nhân dân – người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương, bà X có nghĩa vụ gì trước nhân dân?

Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu bổn phận trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Từ đó cho thấy, đại biểu Hội đồng nhân dân là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân. Với tư cách là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương, đại biểu Hội đồng nhân dân có bổn phận được pháp luật quy định cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự gisát hại của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, văn bản văn bản văn bản công bố văn bản công bố giải trình với cử tri về hoạt động vui chơi của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước.”

Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp, Điều 94, Điều 95 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định:

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự gisát hại của cử tri, có bổn phận thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần công bố với cử tri về hoạt động vui chơi của mình và của Hội đồng nhân dân nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.

– Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có nghĩa vụ công bố với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có bổn phận tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

– Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có bổn phận nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và công bố cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và gigiết hại việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải công bố cho đại biểu Hội đồng nhân dân về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật quy định.

– Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền phát giác gỡ gỡ người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.

4. Theo dõi truyền hình trực tiếp trên và mới gần đây được tham dự buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, tôi thấy đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân bầu ra mình và nhân dân toàn nước, có bổn phận hết sức nặng nề. Ngay sau kỳ họp Quốc hội vừa chấm dứt, tôi thấy đoàn đại biểu Quốc tỉnh X tổ chức họp tiếp xúc cử tri tại xã tôi. Vậy xin hỏi, tiếp xúc cử rtri có phảo là bổn phận của Đại biểu Quốc hội đối với nhân dân?

nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội đối với Nhân dân được quy định tại Điều 79 Hiến pháp năm 2013 như sau:

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình &của Nhân dân toàn quốc.

Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự gisát hại của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, những đơn vị, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và lên tiếng với cử tri về buổi giao lưu của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội trước Nhân dân, Điều 27, Điều 28 Luật tổ chức Quốc hội quy định:

– Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự gigiết hại của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các đơn vị, tổ chức hữu quan; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

– Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi ứng cử theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu niềm nở. Trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ báo cáo với cử tri về buổi giao lưu của đại biểu và Quốc hội; cử tri hoặc đại diện cử tri ở đơn vị bầu cử có thể góp ý kiến với đại biểu Quốc hội tại hội nghị cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết.

Đại biểu Quốc hội có bổn phận tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

– Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và lên tiếng cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và gisát hại việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải báo cáo cho đại biểu Quốc hội về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

– Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Quốc hội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.

Căn cứ quy định trên của pháp luật cho thấy, tiếp xúc của tri là một trong các nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội.

5. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về việc tham gia góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công dân?Tham gia quản lý nhà nước và xã hội là một trong những quyền chính trị quan trọng của công dân. Người dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã hội dưới hai hình thức là: trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại diện của mình do mình lựa chọn. Người dân có thể tham gia xây dựng các chính sách, pháp luật thông qua đại biểu trong các đơn vị đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), các tổ chức chính trị – xã hội mà mình tham gia hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng cũng có thể tham gia ý kiến trực tiếp các vấn đề ở tầm quốc gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, hoặc trực tiếp quyết định các vấn đề ở cơ sở theo quy định của pháp luật… Sự tham gia của nhân dân được thực hiện trong toàn bộ quá trình xây dựng chính sách: từ các đề xuất sáng kiến ban đầu, đến việc tiến hành triển khai xây dựng, quyết định và thi hành chính sách. Tuy nhiên, tùy &o tính chất của những chính sách cụ thể mà người dân có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp, ở mức độ khác nhau.

Cụ thể tại Điều 6 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2014 quy định, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức member khác của Mặt trận và những đơn vị, tổ chức khác, cá nhân có quyền và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có tác động có nghĩa vụ tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.

6. Xin cho biết, pháp luật quy định như thế nào về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội?

Việc đảm bảo sự tham gia của nhân dân &o công việc quản lý nhà nuớc và xã hội đã được ghi trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn… trong đó quy định cụ thể các điều kiện, hiệ tượng, phương thức để nhân dân tham gia &o hoạt động quản lý của Nhà nước như việc các đại biểu, những đơn vị nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp &o các văn bản quy phạm pháp luật được phát hành, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội…

Theo khoản 6 Điều 96 Hiến pháp 2013 thì Chính phủ có nhiệm vụ: bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; đảm bảo đơn côi tự, an toàn xã hội.

Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “các đơn vị nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụáo quần vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự gisát hại của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu đạt quan liêu, hách dịch, cửa quyền..

Tiếp theo, khoản 2 Điều 27 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định, trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội có nghĩa vụ báo cáo với cử tri về buổi giao lưu của đại biểu và Quốc hội; cử tri hoặc đại diện cử tri ở đơn vị bầu cử có thể góp ý kiến với đại biểu Quốc hội tại hội nghị cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết..

Điều 8 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng quy định, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức nhà nước chịu sự gisát hại của nhân dân.

Theo Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (đã được canh chỉnh và sửa chữa, bổ sung năm 2007, năm 2012), trong trường hợp bắt gặp có hành động trái pháp luật của các đơn vị, cán bộ, công chức nhà nước, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Đề nghị cho biết các trường hợp nào không tổ chức trưng cầu dân ý?

Theo Điều 9 Luật trưng cầu ý dân quy định các trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân như sau:

1. Không tổ chức lại việc trưng cầu ý dân về nội dung đã được trưng cầu ý dân trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày kết quả trưng cầu ý dân được công bố.

2. Không tổ chức trưng cầu ý dân trong thời gian ban bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước.

8. Xin hỏi, pháp luật quy định như thế nào về hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân?

Vấn đề bạn hỏi được quy định tại Điều 11 Luật trưng cầu ý dân; cụ thể như sau:

1. Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và có hiệu lực kể từ ngày công bố.

2. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng kết quả trưng cầu ý dân.

3. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ tổ chức và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh kết quả trưng cầu ý dân.

9. Xin hỏi, pháp luật quy định như thế nào về các trường hợp không được ghi tên, bị xóa tên, được bổ sung tên &o danh sách cử tri?

Theo quy định tại Điều 25 Luật trưng cầu ý dân, các trường hợp sau không được ghi tên, bị xóa tên, được bổ sung tên &o danh sách cử tri:

1. Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành động dân sự thì không được ghi tên &o danh sách cử tri.

Xem Thêm  Ẩn dụ là gì? Ví dụ về ẩn dụ – Luật Hoàng Phi

2. Người đã có tên trong danh sách cử tri nếu đến thời điểm khởi đầu bỏ phiếu bị kết án tử hình, phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực biện pháp hành động dân sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

3. Người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 nêu trên nếu đến trước thời điểm mở màn bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc được Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực động thái dân sự thì được bổ sung tên &o danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri để bỏ phiếu trưng cầu ý dân.

4. Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa &o cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu đến trước thời điểm mở màn bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri tại nơi có trại tạm giam, nhà tạm giữ, nơi có cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và được bổ sung tên &o danh sách cử tri tại nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú, nhận thẻ cử tri để bỏ phiếu trưng cầu ý dân.

II. Tìm hiểu một số quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

A. TRẮC NGHIỆM

1. Nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã là gì?

a) đảm bảo chơ vơ tự, kỷ cương, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

b) đảm bảo quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và gigiết hại việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

c) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

d) Tất cả các nguyên tắc trên.

(Điều 2 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

2. Các động thái nào sau đây bị nghiêm cấm trong thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn?

a) Không thực hiện hoặc làm trái các quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã.

b) Trù dập người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có thúc đẩy đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

c) Bao che, cản trở hoặc thiếu bổn phận trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có ảnh hưởng đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

d) Tất cả các động thái nêu trên.

(Điều 4 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

3. Thời hạn lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã được quy định như thế nào?

a) 1 năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã

b) 2 năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã

c) 3 năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã

d) 4 năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã

(Điều 26 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

4. Quy định nào sau đây không phải là bổn phận của cơ quan có thẩm quyền cấp trên về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân cấp xã tham gia ý kiến

a) Lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định về những việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân trên địa bàn cấp xã.

b) Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân.

c) Chỉ đạo Hội đồng nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã.

d) Tiếp thu ý kiến nhân dân về những nội dung đã đưa ra lấy ý kiến. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định các nội dung quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này khác với ý‎ kiến của đa số thì phải nêu rõ lý do và chịu bổn phận về quyết định của mình.

(Điều 22 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

5. hiệ tượng nào dưới đây không phải là hiệ tượng để nhân dân tham gia ý kiến:

a) Công khai ý kiến tại bảng tin lên tiếng của phường, tổ dân phố và trên loa phát thanh của thôn, xã.

b) Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố.

c) Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

d) Thông qua áo quan thư góp ý.

(Điều 20 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

Xem Thêm : Công thức tính diện tích hình thoi và hướng áp điệu bài tập chi tiết

6. bổn phận của Ủy ban nhân dân cấp xã về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến là gì?

a) Lập, thông qua kế hoạch để lấy ý kiến nhân dân về những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã, trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và bổn phận tổ chức thực hiện.

b) Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện kế hoạch đã được thông qua.

c) Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung đưa ra lấy ý kiến nhân dân tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.

d) Tất cả những quy định trên.

(Điều 21 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

7. Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết là gì?

a) Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.

b) Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cấp xã; phương án biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.

c) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.

d) Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính tác động trực tiếp đến cấp xã.

(Điều 13 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

8. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến là gì?

a) Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cấp xã; phương án biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.

b) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt phẳng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.

c) Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã; những nội dung khác nên cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cấp thiết.

d) Tất cả những nội dung trên.

(Điều 19 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

9. hiệ tượng nào dưới đây là bề ngoài nhân dân bàn, biểu quyết?

a) Tổ chức buổi họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

b) Thông qua hậu sự thư góp ý.

c) Công khai ý kiến tại bảng cung cấp thông tin cáo của phường, tổ dân phố và trên loa phát thanh của thôn, xã.

d) Tất cả những bề ngoài nêu trên.

(Điều 14 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

10. Các hiệ tượng công khai để nhân dân biết là gì?

a) Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã;

b) Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;

c) Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để công bố đến nhân dân.

d) Tất cả các hiệ tượng trên.

(Điều 6 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

11. bổn phận tổ chức thực hiện các nội dung công khai cho nhân dân biết được quy định như thế nào?

a) Uỷ ban nhân dân cấp xã có nghĩa vụ lập, thông qua kế hoạch thực hiện những nội dung công khai, trong đó nêu rõ cách thức triển khai thực hiện, thời gian thực hiện và bổn phận tổ chức thực hiện.

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu bổn phận tổ chức thực hiện và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch, phương án đã được thông qua.

c) Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung công khai tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.

d) Tất cả các quy định trên.

(Điều 9 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

II. TÌNH HUỐNG

  1. bác bỏ bỏ bỏ Kỳ là Trưởng thôn, Trưởng làng văn hóa thôn M. thời gian gần đây, bác Kỳ được mời tham dự Hội nghị lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh lãnh đạo Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã. Bác Kỳ muốn tìm hiểu xem pháp luật quy định như thế nào về việc lấy phiếu tín nhiệm?

Điều 26 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 và Nghị quyết lien tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN quy định hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân cấp xã, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã. Việc lấy phiếu tín nhiệm phải được tiến hành thực sự dân chủ, đúng quy định của pháp luật và đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ômy Đảng.

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã chủ trì việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm gồm các member Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cá nhân Ban thường vụ của các tổ chức chính trị – xã hội cấp xã, Trưởng ban thanh tra nhân dân, Trưởng ban gigiết hại đầu tư của cộng đồng (nếu có), Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố. Chậm nhất là 10 ngày trước khi ngày tổ chức Hội nghị lấy phiếu tín nhiệm, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải gửi giấy mời, kèm theo Bản kiểm điểm công tác của người được đưa ra láy phiếu tín nhiệm cho những người thuộc thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm.

Hội nghị lấy phiếu tín nhiệm chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba số đại biểu chính thức tham dự.

Sau khi kết thúc hội nghị lấy phiếu tín nhiệm, trong thời hạn 5 ngày làm việc, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã gửi báo cáo kết quả lấy phiếu tín nhiệm kèm theo kiến nghị của mình đến Thường trực Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và tổ chức Đảng có thẩm quyền quản lý người được lấy phiếu tín nhiệm để xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

  1. mới đây, xã K có nhận được nguồn tài trợ từ nhiều nơi khác nhau để xây dựng con đường liên thôn, liên xã. Bà con nhân dân xã K muốn chính quyền xã K công khai việc quản lý và sử dụng các loại quỹ cũng như các khoản đầu tư, tài trợ theo dự án đối với cấp xã, nhưng không biết pháp luật quy định những nội dung nào cần công khai để dân biết?

Theo Điều 5 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, những nội dung công khai để dân biết gồm có:

– Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.

– Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt phẳng, tái định cư tác động đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân.

– Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp.

– Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế.

– Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính ảnh hưởng trực tiếp tới cấp xã.

– Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

– Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.

– Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu.

– Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc ảnh hưởng đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.

– Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cấp thiết.

Như vậy, bà con nhân dân xã K hoàn toàn có quyền yêu cầu chính quyền xã K công khai việc quản lý và sử dụng các loại quỹ cũng như các khoản đầu tư, tài trợ theo dự án đối với cấp xã theo quy định của pháp luật.

  1. Trước khi về nghỉ hưu, ông H Tổ trưởng Tổ dân phố đã giới thiệu ông M làm Tổ trưởng Tổ dân phố mới thay ông. Tuy nhiên, chính quyền địa phương quyết định tổ chức họp toàn dân trong phố để bầu tổ trưởng mới. Tôi là người dân của tổ dân phố nói trên, xin hỏi, việc bầu tổ trưởng tổ dân phố có phải đưa ra để nhân dân bàn và biểu quyết hay không? Có những bề ngoài nào để dân bàn và biểu quyết?

Theo quy định của Điều 13 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết gồm có:

– Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.

– Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

– Bầu, bãi nhiệm member Ban thanh tra nhân dân, Ban gigiết hại đầu tư của cộng đồng.

bởi vì, việc bầu Tổ trưởng mới phải được đưa ra để nhân dân bàn và biểu quyết. Đây là một trong những quy định của pháp luật hiện hành.

Nhân dân bàn và biểu quyết những nội dung nêu trên bằng một trong những hiệ tượng sau đây:

– Tổ chức buổi họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

– Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng bề ngoài giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; bề ngoài biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại buổi họp.

Trường hợp không tổ chức lại được buổi họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

(Điều 14 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007)

  1. Xã tôi đang tiến hành nạo vét, cải tiến hệ thống kênh mương dẫn nước tưới tiêu &o đồng ruộng. Kinh phí xây dựng chủ yếu do nhân dân trong toàn xã đóng góp. vừa mới qua, chính quyền xã đề nghị bà con nhân dân tích cực cùng nhau gisát hại để dự án, công trình hoàn thành đạt chất lượng tốt. Tôi muốn hỏi nhân dân tham gia giám sát những công việc của thôn, xã qua những hình thức nào?

Nhân dân thực hiện việc giám sát bằng hai hiệ tượng là gián tiếp và trực tiếp được quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007).

Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua buổi giao lưu của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng. Đây là bề ngoài giám sát gián tiếp của nhân dân.

Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức cá nhân của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng. Đây là hiệ tượng giám sát trực tiếp của nhân dân

  1. Xin hỏi những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp theo quy định của pháp luật có giá trị thi hành như thế nào?

Giá trị thi hành những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp được quy định tại Điều 12 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 như sau:

– Những nội dung theo quy định của pháp luật mà Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình an sinh công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật khi đưa ra nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã tán thành thì có giá trị thi hành.

– Nhân dân có nghĩa vụ tham gia bàn và quyết định các công việc của thôn, tổ dân phố và của cấp xã theo quy định của pháp luật; chấp hành và thực hiện các quyết định đã có giá trị thi hành.

– Chính quyền cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức member của Mặt trận cùng cấp tổ chức tuyên truyền, vận động, thuyết phục những cử tri, hộ gia đình chưa tán thành trong việc thực hiện những quyết định đã có giá trị thi hành.

6. Do con đường từ làng xuống cánh đồng đã xuống cấp và quá hẹp, gây lên nhiều khó khăn cho người dân trong việc vận chuyển lúa và hoa màu mỗi khi đến vụ thu hoạch. Chính quyền thôn đã quyết định cải tạo, cải sinh xây dựng con đường mới phục vụ quá trình đi lại,sản xuất nông nghiệp của bà con. Được sự đồng ý của Đảng ủy và chính quyền thôn, xác định đây là con đường do thôn quản lý nên ông M – Trưởng thôn đã quyết định phân bổ theo đầu người của mỗi hộ gia đình và đề nghị đóng góp 100 nghìn đồng/ người để lấy kinh phí xây dựng con đường mới. Xin hỏi quyết định của ông M là đúng hay sai? Xin hỏi, những nội dung gì nhân dân bàn và quyết định trực tiếp?

Theo Điều 10 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, những nội dung gì nhân dân bàn và quyết định trực tiếp gồm có: Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật.

Nội dung đóng góp và mức đóng góp để xây dựng con đường mới phải được đưa ra cuộc họp công khai toàn dân để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp trước khi tiến hành đóng góp xây dựng con đường. Do vậy, quyết định của ông M là sai, mang tính áp đặt, không dân chủ công khai và thực hiện theo đúng trình tự pháp luật quy định.

7. Trong cuộc họp của Tổ dân phố về việc bầu Tổ trưởng Tổ dân phố nhiệm kỳ mới, ông T được bầu làm Tổ trưởng với tỷ lệ đồng ý trên 90%. Xin hỏi, kết quả bầu chọn của người dân có giá trị thi hành ngay hay phải được Ủy ban nhân dân phường công nhận? Việc công nhận kết quả này được pháp luật quy định như thế nào?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, đối với nội dung bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố, nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi hành sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, phường ra quyết định công nhận.

Như vậy, kết quả bầu ông T làm Tổ trưởng Tổ dân phố của người dân có giá trị thi hành sau khi Ủy ban Nhân dân cấp xã, phường ra quyết định công nhận.

Theo quy định của Điều 6 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, các hiệ tượng công khai để dân biết, gồm có:

– Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã;

– Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;

– Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân.

Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều bề ngoài công khai quy định nêu trên; thực hiện việc báo tin theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng.

9. những năm gần đây, thôn X có mời bà con trong thôn tham dự cuộc họp của thôn để góp ý cho đề án tách thôn X thành hai thôn X và Y. Tuy nhiên, do bận công việc làm ăn, một số người không thể dự họp được và họ muốn hỏi, ngoài việc dự họp để góp ý thì còn hiệ tượng nào khác để nhân dân đóng góp ý kiến không?

Theo Điều 20 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, có 03 hiệ tượng để nhân dân tham gia ý kiến:

Xem Thêm  0385 là mạng gì? Lưu ý quan trọng khi mua SIM đầu số 0385

– Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố, do Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố phối hợp với Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố tổ chức theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền.

– Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, do Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố phối hợp với Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố tổ chức theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền.

– Thông qua hậu sự thư góp ý, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã chịu nghĩa vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức lấy ý kiến nhân dân thong qua cỗ áo thư góp ý. Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố biến cho người dân các nội dung cần lấy ý kiến; hướng dẫn địa điểm các cỗ áo thư để người dân đóng góp ý kiến.

10. Sau khi rà soát số lượng các tổ hòa giải trong xã, tôi thấy tổ hòa giải thôn X chưa đúng, đủ thành phần theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở, cần tiền hành bầu bổ sung. Tuy nhiên, để triệu tập đại diện hộ gia đình để họp bầu hòa giải viên là khó khăn, do địa bàn đồi núi, dân cư ở cách xa nhau, lại đang chính vụ thu hoạch nông sản. chính vì, tôi muốn tham mưu tiến hành bầu hòa giải viên thông qua bề ngoài phát phiếu lấy ý kiến tới từng hộ gia đình thì có được không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật hòa giải ở cơ sở thì Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;

b) Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

Căn cứ quy định trên của pháp luật, bạn có thể tham mưu việc bầu hòa giải viên thông qua bề ngoài phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

11. vừa mới qua, thành phố có chủ trương đề xuất Trung ương tách xã K thành 2 xã để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước vì xã K hiện có diện tích khá lớn, dân số lại đông nên ít nhiều gây quá tải cho công tác quản lý nhà nước của đội ngũ công chức xã này. Để triển khai chủ trương này, xã K dự định sẽ thông báo và lấy ý kiến công khai nhân dân trong toàn xã về nội dung này. Là người dân của xã tôi muốn biết những chủ trương, chính sách nào thì nhân dân tham gia ý kiến?

Điều 19 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định những nội dung nhân dân tham gia ý kiến bao gồm:

– Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.

– Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.

– Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.

III. Tìm hiểu một số quy định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân

A. TRẮC NGHIỆM

1. Việc khiếu nại được giải quyết trong hệ thống hành chính mấy lần?

a. Tối đa hai lần.

b. Tối đa ba lần

c. Tối đa bốn lần.

d. Không quy định số lần giải quyết là bao nhiêu.

(Khoản 7 Điều 11, Mục 1 Chương III Luật khiếu nại 2012)

2. Đối tượng nào dưới đây không bị khiếu nại theo Luật khiếu nại 2012?

a. Quyết định hành chính

b. hành động hành chính.

c. Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

d. Quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân cho người lao động thôi việc.

(Điều 1 Luật Khiếu nại)

3. Việc khiếu nại không được thực hiện bằng hình thức nào dưới đây?

a. Đơn khiếu nại.

b. Khiếu nại trực tiếp

c. Khiếu nại thông qua điện thoại.

(Điều 8 Luật Khiếu nại)

4. Thời hiệu khiếu nại là bao lâu?

a. 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, động thái hành chính.

b. 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, động thái hành chính.

c. 60 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành động hành chính.

d. 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, biện pháp hành động hành chính.

(Điều 9 Luật Khiếu nại)

5. Nhận định nào dưới đây không đúng về việc cử người đại diện khi có nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung?

a. Người đại diện có thể không phải là người khiếu nại.

b. Người đại diện phải là người khiếu nại.

c. Trường hợp có từ 5 đến 10 người khiếu nại thì cử 1 hoặc 2 người địa diện.

d. Trường hợp có từ 10 người khiếu nại trở nên thì được cử tối đa không quá 5 người đại diện.

(Điều 5 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP)

6. Quyết định giải quyết khiếu nại trên báo nói, báo hình là mấy lần?

a. Ít nhất 01 lần phát sóng.

b. Ít nhất 02 lần phát sóng.

c. Ít nhất 03 lần phát sóng.

d) Ít nhất 04 lần phát sóng.

(Điều 12 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP)

7. biện pháp hành động nào dưới đây bị Luật khiếu nại nghiêm cấm?

a. Cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại.

b. Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định.

c. Cố tình khiếu nại sai sự thật;

d. Cả ba biện pháp hành động trên đều bị nghiêm cấm.

(Điều 6 Luật Khiếu nại)

8. Khiếu nại nào dưới đây không được thụ lý giải quyết?

a. Người khiếu nại không có năng lực động thái dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp;

b. Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại;

c. Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại;

d. Cả 3 trường hợp trên đều không được thụ lý.

(Điều 11 Luật Khiếu nại)

9. động thái nào dưới đây bị Luật tố cáo nghiêm cấm?

a. Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo.

b. Cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.

c. Lợi dụng việc tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, bơ vơ tự công cộng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

d. Cả ba biện pháp hành động trên đều bị nghiêm cấm.

Xem Thêm : Chị X là ai? Lý do nhà văn X bị cộng đồng mạng anti? – Palda.vn

(Điều 8 Luật tố cáo)

10. Người giải quyết tố cáo có nghĩa vụ thực hiện công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý động thái vi phạm bị tố cáo tròn thời hạn bao lâu?

a.Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý biện pháp hành động vi phạm bị tố cáo.

b.Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành động vi phạm bị tố cáo.

c.Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý động thái vi phạm bị tố cáo.

d.Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý biện pháp hành động vi phạm bị tố cáo.

(Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP)

11. Biện pháp bảo vệ thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân thân, nhân dạng của người được bảo vệđược áp dụng khi nào?

c. Có sự đồng ý của người được bảo vệ

b. Có biện pháp hành động xâm hại hoặc đe dọa xâm hại là đặc biệt nguy hiểm có ảnh hưởng đến tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm về ma túy hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định của pháp luật hình sự.

c. Có hành động xâm hại hoặc đe dọa xâm hại là nguy hiểm có tương tác đến tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.

d. Khi có cả 2 điều kiện a và b nêu trên.

(Điểm d khoản 4 Điều 14 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP)

12. Người tố cáo không có quyền nào dưới đây?

a. Được ủy quyền tố cáo

b. Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;

c. Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, member có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết;

d. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập.

(Điều 9 Luật tố cáo)

13. Người giải quyết tố cáo không có nghĩa vụ nào dưới đây?

a. bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo;

b. Tiết lộ thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kết luận về nội dung tố cáo;

c. Chịu bổn phận trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo;

d. bồi hoàn, đền bù thiệt hại do biện pháp hành động giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình gây ra.

(Khoản 2 Điều 11 Luật tố cáo)

B. TÌNH HUỐNG

1. Đề nghị cho biết, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được Hiến pháp quy định như thế nào?

Quyền khiếu nại, tố cáo là một quyền chính trị quan trọng của công dân. Đây là một công cụ pháp lý quan trọng, bảo đảm cho công dân có bản lĩnh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời phát giác ra những vi phạm trong buổi giao lưu của cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, giúp cho việc chỉnh đốn, củng cố và cải tiến hoạt động của những đơn vị này. Thông qua việc thực hiện quyền này, công dân đã góp phần tích cực và chủ động &o hoạt động quản lý nhà nước và xã hội. Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, member.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi hoàn về vật chất, tinh thần và bình phục danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”

2. Anh A là thủ trưởng một đơn vị quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế. mới đây, do bị xử lý với hình thức cảnh cáo về một số động thái vi phạm trong quá trình quản lý nên anh A bực tức quay lại trả thù, trù dập nhân viên đã tố cáo mình là chị H. Xin hỏi, động thái của anh A sẽ bị xử lý như thế nào?

Tại khoản 8 Điều 8 Luật tố cáo quy định một trong các động thái bị nghiêm cấm là trả thù, trù dập người tố cáo.

Cũng theo quy định tại Điều 48 Luật tố cáo thì người tố cáo và những người khác có ảnh hưởng có động thái quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu nghĩa vụ hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải đền bù theo quy định của pháp luật.

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) đã đưa ra một điều khoản trực tiếp quy định về tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 132. Theo đó:

1. Người nào có một trong các biện pháp hành động sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo;

b) Có bổn phận mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.

2. Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”

Theo đó, tùy &o tính chất và mức độ của hành động vi phạm mà anh A sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật nêu trên.

3. Ông A là công chức của đội quản lý thị trường B. Trong quá trình kiểm tra một số cơ sở kinh doanh thương mại trên địa bàn, ông A đã có hành động nhận tiền của một số cơ sở kinh doanh thương mại Thương mại thương mại để bỏ lỡ một số vi phạm của các cơ sở kinh doanh Thương mại này. Xin hỏi, tôi có thể tố cáo biện pháp hành động trên của ông A không?

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành động vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, thành viên nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Theo đó, quyền tố cáo là quyền của công dân được báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về biện pháp hành động vi phạm pháp luật của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố cáo thì công dân được tố cáo những vấn đề sau:

– Tố cáo động thái vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, thành viên có thẩm quyền biết về động thái vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Tố cáo biện pháp hành động vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành động vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, thành viên nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

Nhân thấy, biện pháp hành động nhận tiền để bỏ lỡ một số vi phạm của các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng kiểm tra là hành động vi phạm pháp luật. Do đó, ông/bà cần tố cáo động thái trên với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

4. Anh T phát giác được một số hành động sai phạm của cán bộ địa chính xã X trong tham mưu quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương và định tố cáo với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, để thực hiện việc tố cáo, anh muốn tìm hiểu thêm về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được quy định như thế nào?

Để tạo điều kiện cho người tố cáo thực hiện quyền tố cáo những hành động vi phạm pháp luật mà họ biết, đồng thời có những biện pháp cấp thiết để bảo vệ họ khi đứng ra tố cáo, xác định rõ bổn phận của người tố cáo khi đưa tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Điều 9 Luật tố cáo quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo như sau:

a. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

– Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

– Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin thành viên khác của mình;

– Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo;

– Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết;

– Yêu cầu cơ quan, tổ chức, thành viên có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;

– Được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

b. Các nghĩa vụ của người tố cáo:

– Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

– biểu lộ trung thực về nội dung tố cáo; đưa thông tin, tài liệu thúc đẩy đến nội dung tố cáo mà mình có được;

– Chịu bổn phận trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

– bồi hoàn thiệt hại do động thái cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.

Việc quy định nghĩa vụ của người tố cáo biểu lộ được tính công bằng của pháp luật. Người tố cáo phải chịu bổn phận trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải đền bù thiệt hại do động thái cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra. bởi vì, khi làm đơn tố cáo, người tố cáo phải cân nhắc, suy nghĩ cẩn trọng, có chứng cứ xác đáng và đặc biệt không thể vì động cơ thành viên trả thù người có mâu thuẫn với mình hay vì một cạnh tranh ở mức, đố kỵ… mà làm đơn tố cáo, vu khống làm mất uy tín, danh dự, thậm chí gây thiệt hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Nếu người tố cáo mà tố cáo sai sự thật thì họ nên phải chịu bổn phận pháp lý theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm tránh xảy ra tình trạng tố cáo tràn lan, không có đủ thông tin chính xác hoặc do trình độ hạn chế của người tố cáo đã nhận thức không đúng về bản chất sự việc đã tố cáo sai sự thật hoặc lợi dụng quyền tố cáo để phục vụ cho lợi ích của bản thân hoặc để trả thù người khác vì lý do thành viên.

5. Sau khi tố cáo động thái tham nhũng của một số cán bộ xã, tôi thường bị người thân của những người bị tôi tố cáo nhắn tin đe dọa trả thù. Xin hỏi, đẻ bảo vệ cho tôi cũng như người thân trong gia đình, tôi có thể đề nghị bảo vệ người tố cáo không? Pháp luật quy định như thế nào về phạm vi, đối tượng và thời hạn bảo vệ người tố cáo?

Điều 34 của Luật Tố cáo quy định đối tượng được bảo vệ là người tố cáo và người thân thích của người tố cáo.

nghĩa vụ chính trong việc bảo vệ người tố cáo trước hết thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người giải quyết tố cáo có nghĩa vụ bảo vệ người tố cáo, không phụ thuộc &o người tố cáo có yêu cầu hay không. Theo đó, người tố cáo được bảo vệ về:

– bí mật thông tin cá nhân (gồm họ tên, tuổi, địa chỉ, nơi làm việc, gia đình, người thân…): Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp có bổn phận giữ kín đáo họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin member khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cấp thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ kín đáo thông tin và bảo vệ cho người tố cáo (Điều 36). Đồng thời, khoản 3 Điều 8 của Luật Tố cáo cũng quy định nghiêm cấm tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo.

– Được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín: Khi người giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố cáo bị đe doạ, trả thù, trù dập thì có nghĩa vụ chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan cảnh sát hoặc cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời chặn đứng, bảo vệ người tố cáo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật đối với người có biện pháp hành động đe doạ, trả thù, trù dập người tố cáo (khoản 1 Điều 39).

Được bảo vệ tại nơi công tác, nơi làm việc: Để bảo đảm người tố cáo không bị trù dập, cản trở trong công việc, Điều 37 Luật Tố cáo quy định người có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải bảo đảm vị trí công tác, không được phân biệt đối xử về việc làm đối với người tố cáo dưới mọi hình thức, không được trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo (khoản 1, 2 Điều 37).

Được bảo vệ tại nơi cư trú: Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ bảo đảm để người tố cáo không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; không bị phân biệt đối xử, trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo (khoản 1, 2 Điều 38).

Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định bộ hạ &o tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của động thái xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bắt buộc phải bảo vệ.

Theo đó, ông/bà có thể căn cứ &o quy định pháp luật nêu trên để đề nghị được bảo vệ.

7. Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe; bảo vệ tài sản; bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác, ông A – người tố cáo hành động cố ý làm trái quy định của pháp luật của ông C, đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp bảo vệ người tố cáo.Xin cho biết, nêu được bảo vệ, ông A có quyền và nghĩa vụ gì?

Mặc dù bổn phận chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, người tố cáo được bảo vệ cũng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Điều 35 Luật Tố cáo.

Theo đó, người tố cáo có các quyền:

– Yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mình hoặc người thân thích của mình khi có căn cứ xác định việc bị kỷ luật, buộc thôi việc, luân chuyển công tác hoặc bị các hình thức trù dập, phân biệt đối xử khác, bị đe dọa xâm hại hoặc xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do việc tố cáo hành động vi phạm pháp luật;

Xem Thêm  Agenda Là Gì? Cách Tạo Ra Một Agenda Hoàn Hảo Nhất – Glints

– Được thông báo về biện pháp bảo vệ được áp dụng; đề nghị thay đổi biện pháp bảo vệ nếu có căn cứ cho rằng biện pháp đó không bảo đảm an ninh; được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ;

– Yêu cầu gia hạn thời hạn bảo vệ; yêu cầu bảo vệ lại;

– Được bồi hoàn theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ đền bù của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo yêu cầu cơ quan, tổ chức, thành viên có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ mình mà các cơ quan, tổ chức, thành viên đó không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tổn thất về tinh thần cho người được bảo vệ.

Người tố cáo có các nghĩa vụ:

– Gửi văn bản yêu cầu bảo vệ trong trường hợp có căn cứ cho rằng bị phân biệt đối xử về việc làm (quy định tại Điều 37); trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân (quy định tại Điều 38); hay nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình (quy định tại Điều 39) của Luật Tố cáo đến người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo. Trong trường hợp khẩn cấp, có thể gặp trực tiếp hoặc thông qua các hình thức thông tin khác để yêu cầu được bảo vệ ngay nhưng sau đó phải gửi văn bản yêu cầu chính thức đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ;

– đưa thông tin, tài liệu, căn cứ xác định việc bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác là xác thực và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin, tài liệu đã cung cấp;

– Tuân thủ yêu cầu mà cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ đưa ra có tương tác đến công tác bảo vệ; không được tiết lộ biện pháp bảo vệ cho người khác biết.

7. Chị Th muốn tố cáo biện pháp hành động vi phạm của Phó chủ tịch xã X với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng lại lo sợ sẽ bị trả thù. Người thân khuyên chị cứ tố cáo hành động sai phạm, không phải lo lắng vì pháp luật đã có quy định bảo vệ kín đáo thông tin về người tố cáo. Chị muốn biết pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này như thế nào?

Để bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo tại khoản 3 Điều 8, Điều 36 Luật tố cáo quy định nghiêm cấm động thái tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo. Cơ quan, tổ chức, member có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin member khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo.

Cũng tại Điều 12 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP quy định như sau:

1. Khi tiếp nhận tố cáo, thụ lý giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức, thành viên có thẩm quyền phải nghiên cứu, xác định nội dung vụ việc, những thông tin nếu tiết lộ sẽ gây bất lợi cho người tố cáo để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người tố cáo. Trường hợp cần thiết có thể lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin member khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời lưu trữ và quản lý thông tin về người tố cáo theo chế độ thông tin mật.

2. Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu có yêu cầu làm việc trực tiếp với người tố cáo, cơ quan, tổ chức, member có ảnh hưởng, người giải quyết tố cáo phải bố trí thời gian, địa điểm và lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo.

3. Trường hợp bắt gặp người không có thẩm quyền có biện pháp hành động thu thập thông tin về người tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng biện pháp theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp chặn lại hoặc xử lý đối với người có hành động vi phạm.

8. Sau khi anh H gửi đơn tố cáo động thái sai phạm trong quản lý đất đai của ông X được 1 thời gian thì anh và người thân trong gia đình thường xuyên nhận được những tin nhắn lạ với nội dung đe dọa. những năm gần đây nhất, nhà anh bị hai đối tượng lạ mặt ném bom bẩn (mắm tấp ủ) &o nhà. Cho rằng nguyên nhân của những sự việc trên xuất phát từ lá đơn tố cáo của anh, nên anh H muốn đề nghị cơ quan có thẩm quyền bảo vệ mình và gia đình thì có được không?

Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo, Điều 39 Luật tố cáo quy định:

1. Khi người giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố cáo bị đe dọa, trả thù, trù dập thì có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan cảnh sát hoặc cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời chặn lại, bảo vệ người tố cáo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có biện pháp hành động đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo.

2. Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình hoặc người thân thích của mình thì có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.

3. Trường hợp yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an kịp thời áp dụng các biện pháp hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ:

a) Bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân thích của họ có nguy cơ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe;

b) Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ bình an tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người tố cáo và người thân thích của họ tại nơi cần thiết;

c) Áp dụng biện pháp chặn đứng, xử lý động thái xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo theo quy định của pháp luật;

d) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

9. Xin cho biết, việc tố cáo có thể ủy quyền cho người khác thực hiện không?

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành động vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Xuất phát từ khái niệm trên về tố cáo cho thấy việc tố cáo có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành động bị tố cáo.

Do đó, người tố cáo phải chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố cáo sai sự thật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại Điều 9 Luật tố cáo quy định việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.

Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận &o văn bản, trong đó ghi rõ nội dung tương tự như trong đơn tố cáo. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để biểu thị nội dung tố cáo.

Từ các quy định pháp luật nêu trên cho thấy, người tố cáo không được ủy quyền cho người khác thực hiện quyền tố cáo.

10. Chị A muốn tố cáo lãnh đạo đơn vị về một số sai phạm trong quản lý . Chị muốn biết pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo?

Vấn đề này, Điều 5 Luật tố cáo quy định như sau:

– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm chặn lại thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm bình yên về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm quyết định xử lý động thái vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định xử lý của mình.

– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm bố trí trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân để tiếp nhận tố cáo, khiếu nại, kiến nghị, phản ánh. Việc tổ chức tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết theo đúng quy định của Luật này, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

11. vừa mới qua, tôi có mua 250m2 đất vườn của người anh họ ở quê, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ về đó sinh sống. Khi mua bán đất, chúng tôi đã ký hợp đồng có công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Sau đó, tôi cũng đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước. Tuy nhiên, khi tôi mang hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng đất đến UBND xã thì bị trả lại mà không có giải thích lý do? Vậy, xin hỏi tôi có thể khiếu nại biện pháp hành động đó của cán bộ địa chính xã không?

Khiếu nại làviệc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, biện pháp hành động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành động đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Từ khái niệm trên về khiếu nại cho thấy, đây là một công cụ pháp lý quan trọng, bảo đảm cho công dân có khả năng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời phát hiện ra những vi phạm trong hoạt động của cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, giúp cho việc chỉnh đốn, củng cố và cải tiến hoạt động của các cơ quan này.

Do vậy, nếu thấy động thái trả lại hồ sơ của cán bộ địa chính xã không đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích của bản thân, ông/bà có thể khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.

12. Xin cho biết, trách nhiệm giải quyết khiếu nại được quy định như thế nào?

Vấn đề bạn nêu được quy định tại Điều 5 Luật Khiếu nại; cụ thể như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết khiếu nại được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

2. Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại; tin báo, tài liệu có liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại quyết định hành chính, biện pháp hành động hành chính, quyết định kỷ luật của mình; nếu trái pháp luật phải kịp thời sửa chữa, khắc phục, tránh phát sinh khiếu nại.

Nhà nước khuyến khích việc hòa giải tranh chấp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó.

13. vừa mới qua, UBND huyện T ra quyết định thu hồi 150 m2 đất của gia đình tôi để làm đường. Không đồng ý với việc bồi thường theo giá đất nông nghiệp, tôi đã làm đơn khiếu nại lên UBND huyện và đã có quyết định trả lời. Tuy nhiên, tôi thấy quyết định giải quyết của UBND huyện chưa thỏa đáng nên muốn khởi kiện ra Tòa án hành chính thì có được không?

Tại Điều 7 Luật khiếu nại quy định về trình tự khiếu nại như sau:

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, biện pháp hành động hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ trưởng liên nghành liên nghành liên nghành, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Căn cứ &o quy định nêu trên của pháp luật, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ giai đoạn nào, ông/bà có thể khởi kiện ra Tòa án hành chính.

14. Sau khi nhận được quyết định thu hồi 50 m2 đất. Tôi đã làm đơn khiếu nại về mức giá đền bù không thỏa đáng theo quy định của pháp luật. Vậy xin hỏi, với tư cách là người khiếu nại, tôi có quyền như thế nào?

Vấn đề bạn nêu được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại. Theo đó, người khiếu nại có các quyền sau:

a) Tự mình khiếu nại.

Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại;

Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại;

b) Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trường hợp người khiếu nại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

c) Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại;

d) Được biết, đọc, sao chụp, sao chép, tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước;

đ) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại tin báo, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước;

e) Được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại;

g) Đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó;

h) Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại;

i) Được hồi sinh quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

k) Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính;

l) Rút khiếu nại.

15. Trước khi sang nước ngoài trông cháu một thời gian, cô tôi có giao cho tôi ở và coi ngó ngôi nhà cho cô. Do là cô cháu ruột , nên giữa hai cô cháu không làm giấy tờ gì cả. Vừa qua, cơ quan có thẩm quyền cấp chứng từ chứng nhận quyền sở hữu nhà cho cô tôi. Tuy nhiên, tôi phát hiện diện tích ghi trong Giấy chứng nhận thiếu gần 10 m2 so với diện tích thực tế đang sử dụng. Bởi điều kiện ở xa, đi lại tốn kém nên cô tôi muốn ủy quyền cho tôi khiếu nại về việc cấp thủ tục chứng nhận trên thì có được không?

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 12 Luật khiếu nại thì trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại.

Cũng tại Điều 20 Bộ luật dân sự 2015 thì người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật dân sự.

Do đó, nếu bạn đáp ứng được điều kiện về việc ủy quyền nêu trên thì bạn có thể được cô mình ủy quyền khiếu nại về việc cấp chứng từ chứng nhận quyền sở hữu nhà.

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *