Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi | Tác giả – Loigiaihay.com

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi | Tác giả – Loigiaihay.com. Bài viết nguyen trai viet binh ngo dai cao vao nam nao tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

II. Tác phẩm

Bạn Đang Xem: Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi | Tác giả – Loigiaihay.com

1. Tìm hiểu chung

a. hoàn cảnh ra đời

– Mùa đông năm 1427, sau khi diệt viện, chém Liễu Thăng, đuổi Mộc Thạnh, tổng binh Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông Quan phải xin hàng, cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn thắng lợi.

– Năm 1428: Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đình Hậu Lê, sai Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho toàn dân được biết chiến thắng vĩ đại của quân dân trong 10 năm chiến đấu gian khổ, từ nay, nước Việt đã giành lại được nền độc lập, non sông trở lại thái bình.

b. Nhan đề

– Chữ Hán: Bình Ngô đại cáo => dịch ra tiếng Việt: Đại cáo bình Ngô.

– cắt nghĩa:

+ Đại cáo: bài cáo lớn => dung lượng lớn.

=> tính chất trọng đại.

+ Bình: dẹp yên, bình định, ổn định.

+ Ngô: giặc Minh.

=> Nghĩa của nhan đề: Bài cáo lớn ban bố về việc dẹp yên giặc Ngô.

c. Thể loại cáo

– Khái niệm: là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để thể hiện một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết.

– Đặc trưng:

+ Viết bằng văn xuôi hay văn vần, phần nhiều là văn biền ngẫu (loại văn có ngôn ngữ đối ngẫu, các vế đối thanh B – T, từ loại, có vần điệu, sử dụng điển cố, ngôn ngữ khoa trương).

+ Lời lẽ đanh thép, lý luận sắc bén.

+ cấu trúc chặt chẽ, mạch lạc.

d. bố cục: 4 phần

+ Phần 1 (“Từng nghe”… “chứng cớ còn ghi”): nêu luận đề chính nghĩa.

+ Phần 2 (“gần đây”… “thần dân chịu được”): vạch rõ tội ác tày trời của giặc Minh.

+ Phần 3 (“Ta đây”… “cũng là chưa thấy xưa nay”): kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa.

+ Phần 4: (còn lại) tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa.

2. Tìm hiểu chi tiết

a. Phần 1: Nêu cao luận đề chính nghĩa

* Tư tưởng bẩn thỉun huệ:

– Theo ngụ ý của đạo Nho: nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lý.

– Nguyễn Trãi:

+ Chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản của tư tưởng nhân đức: bẩn thỉun huệ chủ yếu để yên dân.

+ Đem đến nội dung mới: nhân huệ là yên dân trừ bạo.

=> Đó là cơ sở để bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh (phù Trần diệt Hồ giúp Đại Việt).

=> Khẳng định lập trường chính nghĩa của ta và tính chất bất chính của kẻ thù xâm lược.

* Chân lý về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt:

– Cương vực lãnh thổ: “nước Đại Việt ta” – “núi sông bờ cõi đã chia”.

Xem Thêm  5 Bài hát nổi đình nổi đám mà Tiên Cookie sáng tác cho Bích Phương

– Nền văn hiến: “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.

– Phong tục: “phong tục Bắc Nam cũng khác”.

– Lịch sử riêng, chế độ riêng: “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

– thiên tài: “đời nào cũng có”.

+ Các từ ngữ: “từ trước”, “đã lâu”, “vốn xưng”, “đã chia”, “cũng khác” cho thấy sự tồn tại hiển nhiên, vốn có, lâu đời của một nước Đại Việt độc lập, có chủ quyền và văn hiến.

+ Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của một lời tuyên ngôn.

* So sánh với “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt: ý thức độc lập dân tộc của Đại cáo bình Ngô phát triển toàn diện và sâu sắc hơn.

– Toàn diện, vì:

+ Lý Thường Kiệt mới chỉ xác định dân tộc ở hai bình diện: lãnh thổ và chủ quyền.

+ Nguyễn Trãi đã xác định dân tộc ở nhiều bình diện: lãnh thổ, nền văn hiến, phong tục tập quán, lịch sử, chế độ, con người.

– Sâu sắc, vì:

+ Lý Thường Kiệt căn cứ &o “thiên thư” (sách trời) – yếu tố thần linh chứ ko phải thực tiễn lịch sử.

+ Nguyễn Trãi đã ý thức rõ về văn hiến, truyền thống lịch sử và con người – những yếu tố thực tiễn cơ bản nhất, các hạt nhân xác định dân tộc

Xem Thêm : Răng mọc chồi là gì? Nguyên nhân và Cách điều trị hiệu quả

b. Phần 2: Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu và nước mắt

– Những âm mưu và tội ác của kẻ thù:

+ Âm mưu xâm lược quỷ quyệt của giặc Minh:

mới gần đây:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lòng doán thù hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa.

> Chữ “nhân”, “thừa cơ” => vạch rõ luận điệu giả nhân giả nghĩa, “mượn gió bẻ măng” của kẻ thù.

=> Nguyễn Trãi đứng trên lập trường dân tộc.

+ Tố cáo chủ trương, chính sách cai trị vô nhân đạo, vô cùng hà khắc của kẻ thù:

> Tàn sát người vô tội: “Nướng dân đen… tai vạ”.

> Bóc lột tàn tệ, dã man: “Nặng thuế… núi”.

> Huỷ diệt môi trường sống: “Người bị ép… cây cỏ”.

> Nguyễn Trãi đứng trên lập trường nhân bản.

– Hình ảnh nhân dân: tội nghiệp, đáng thương, khốn khổ, điêu linh, bị dồn đuổi đến con đường cùng. Cái chết đợi họ trên rừng, dưới biển: “Nặng nề… canh cửi”,…

– Bức Ảnh kẻ thù: tàn bạo, vô nhân tính như những tên ác quỷ: “Thằng há miệng… chưa chán”.

– Nghệ thuật viết cáo trạng:

+ Dùng hình tượng để diễn tả tội ác của kẻ thù: “Nướng dân đen… tai vạ”.

+ Đối lập:

Bức Ảnh người dân vô tội >< Kẻ thù

bị bóc lột, tàn sát dã man tàn bạo, vô nhân tính

+ Phóng đại:

> “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội/ nhơ thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

> Trúc Nam Sơn – tội ác của kẻ thù.

> Nước Đông Hải – sự dơ bẩn của kẻ thù.

+ câu hỏi tu từ: “Lẽ nào… chịu được?” => tội ác trời không dung đất không tha của quân thù.

+ Giọng điệu: uất hận trào sôi, cảm thương tha thiết, nghẹn ngào đến tấm tức.

c. Đoạn 3: Quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (Bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn)

* Hình tượng người chủ tướng Lê Lợi và những năm tháng gian khổ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

– Hình tượng chủ tướng Lê Lợi – hình tượng tâm lý, được miêu tả bằng bút pháp chủ yếu: tự sự – trữ tình.

+ Cách xưng hô: “ta” => khiêm nhường.

+ Nguồn gốc xuất thân: “chốn hoang dã nương mình” => thường nhật => người người hùng áo vải.

+ Có một nội tâm vận động dữ dội (diễn tả qua hàng loạt các từ miêu tả tâm lý, sự biến động nội tâm con người: “ngẫm”, “căm”, “đau lòng nhức óc”, “nếm mật nằm gai”, “quên ăn vì giận”, “đắn đo”, “trằn trọc”, “mộng mị”, “băn khoăn”, “đăm đăm”, “cầu hiền”, “chăm bẳm”).

Xem Thêm  Quán quân Vũ Thảo My The Voice lột xác ngỡ ngàng sau 7 năm

+ Lòng căm thù giặc sâu sắc: “Ngẫm thù lớn… không cùng sống”, “Quên ăn vì giận…”

+ Ý chí, hoài bão cao cả: ngày đêm vượt gian khó, cầu được nhiều người hiền giúp để hoàn thành sự nghiệp cứu nước: “Đau lòng… đồ hồi”, “Tấm lòng cứu nước… phía tả”.

=> Hình tượng Lê Lợi và Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ đều có chung ý thức bổn phận cao với đất nước, có ý chí hoài bão cao cả và lòng căm thù giặc sâu sắc.

– Những khó khăn của nghĩa quân Lam Sơn qua lời phân bua của Lê Lợi:

+ Quân thù: đang mạnh, tàn bạo, xảo trá.

+ Quân ta: lực lượng mỏng (Khi Khôi Huyện quân không một đội), thiếu anh tài (Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ hào kiệt như lá mùa thu/ Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần/ Nơi duy ác hiếm người bàn Bội bạc bẽo), lương thảo khan hiếm (Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần).

– Sức mạnh giúp ta chiến thắng:

+ Tấm lòng cứu nước.

+ Ý chí khắc phục gian nan.

+ Sức mạnh đoàn kết: “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “nhân dân bốn cõi một nhà”.

+ Sử dụng các chiến lược, chiến thuật biến hóa linh động: “Thế trận xuất kì… địch nhiều”.

+ Tư tưởng chính nghĩa: “Đem đại nghĩa… thay cường bạo”.

=> Nguyễn Trãi đề cao tính chất nhân dân, tính chất toàn dân, đặc biệt đề cao vai trò của những người dân nghèo, địa vị thấp hèn (nguyên tác: “manh lệ”; “manh”- người dân cày lưu tán, “lệ”- người tôi tớ, đi ở) trong cuộc khởi nghĩa. Đó là tư tưởng lớn, nhân văn, tiến bộ trước ông chưa có và đến tận giữa thế kỉ XIX mới được Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục công khai ngợi ca.

* Quá trình phản công và chiến thắng:

– Khí thế của quân ta: hào hùng như sóng trào bão cuốn (“sấm vang chớp giật”, “trúc chẻ tro bay”, “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim muông”, “quét sạch lá khô”, “đá núi phải mòn”, “nước sông phải cạn”… => các Bức Ảnh so sánh – phóng đại, biểu đạt tính chất hào hùng).

– Khung cảnh chiến trường: ác liệt, dữ dội khiến trời đất như đảo lộn (“sắc phong vân phải đổi”, “ánh nhật nguyệt phải mờ”).

Xem Thêm : Doanh nhân Lương Hoàng Anh tiểu sử đời sống – Hosodoanhnhan.vn

– Những chiến thắng của ta: dồn dập, liên tiếp (các câu văn điệp cấu trúc, mang tính chất liệt kê: “Ngày 18…/ Ngày 20…/ Ngày 25…/ Ngày 28…”)

– Bức Ảnh kẻ thù:

+ Tham sống, sợ chết, hèn nhát, thảm hại:

Trần Trí, Sơn Thọ – mất vía.

Lí An, Phương Chính – nín thở cầu thoát thân.

Đô đốc Thôi Tụ – lê gối dâng tờ tạ tội.

Thượng thư Hoàng Phúc – trói tay để tự xin hàng.

Quân Vân Nam – khiếp vía mà vỡ mật.

Quân Mộc Thạnh – xéo lên nhau chạy để thoát thân.

Mã Kì, Phương Chính – hồn bay phách lạc.

Vương Thông, Mã Anh – tim đập chân run…

+ Thất bại của kẻ thù: thê thảm nhục nhã “trí cùng lực kiệt”, “máu chảy thành sông”, “thây chất đầy đường”, “máu chảy trôi chày”, “thây chất thành núi”,…

+ Cách gọi, cách miêu tả kẻ thù đầy khinh bỉ, mỉa mai: “thằng nhãi con Tuyên Đức”; “đồ nhút nhát Thạnh, Thăng”; “tướng giặc bị cầm tù – hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng”; “Mã Kì, Phương Chính… ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc”; “Vương Thông, Mã Anh… về đến nước mà vẫn tim đập chân run”;…

– Tính chất hùng tráng của đoạn văn:

+ Ngôn ngữ:

> Sử dụng nhiều động từ mạnh liên kết với nhau tạo những chuyển rung dồn đập, dữ dội: “hồn bay phách lạc”, “tim đập chân run”, “trút sạch”, “phá toang”,…

Xem Thêm  Thiên Bình Hợp Với Cung Nào Trong tình ái Và Tình Bạn?

> Các tính từ chỉ mức độ cực điểm: “thây chất đầy đường”, “máu trôi đỏ nước”, “đầm đìa máu đen”, “khiếp vía vỡ mật”, “sấm vang”, “chớp giật”, “trúc chẻ tro bay”,…

> Khí thế chiến thắng của ta và sự thất bạo thảm hại của kẻ thù.

+ Hình ảnh:

> Có tính chất phóng đại.

> Nhiều tên người, tên đất, tên chiến thắng được liệt kê liên tiếp nối nhau xuất hiện trong thế tương phản thế thắng đang lên của ta đối lập với sự thất bại ngày càng nhiều, càng lớn của kẻ thù.

+ Nhịp điệu câu văn:

> Khi dài, khi ngắn biến hóa biến hóa linh động.

> Dồn dập, sảng khoái, bay bổng, hào hùng như sóng trào bão cuốn.

– Chủ trương hòa bình, nhân đạo:

+ Tha tội chết cho quân giặc đầu hàng.

+ Cấp ngựa, cấp thuyền, lương ăn cho quân bại trận.

> Đức hiếu sinh, lòng nhân đạo.

> tình ái hòa bình.

> Sách lược để tính kế lâu dài, kiên cố cho non sông.

=> Tư tưởng nhân đức – yên dân – trừ bạo.

d. Đoạn 4: Tuyên bố thắng trận, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa và nêu lên bài học kinh nghiệm kinh nghiệm lịch sử

– Giọng văn: trang nghiêm, trịnh trọng.

=> Tuyên bố, khẳng định với toàn dân về nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước đã được lập lại.

– Bài học lịch sử:

+ Sự thay đổi bản tính là sự phục hưng dân tộc là nguyên nhân, là điều kiện để tùy chỉnh cấu hình thiết lập sự bền vững và kiên cố: “Xã tắc… sạch làu”.

+ Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại làm nên chiến thắng: “Âu… vậy”.

=> Ý nghĩa lâu dài với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

e. Nội dung

Là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 của dân tộc ta ở thế kỉ XV:

– Nêu cao tư tưởng nhân đức, chân lý độc lập dân tộc.

– Tố cáo tội ác của kẻ thù.

– Tái hiện quá trình kháng chiến hào hùng.

– Tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử.

f. Nghệ thuật

– Kết hợp hài hòa 2 yếu tố: chính luận sắc bén và văn chương trữ tình.

– Mang đậm cảm hứng nhân vật ca.

=> Là áng “thiên cổ hùng văn”.

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *