Viên tướng của chính quyền Sài Gòn Ngô Quang Trưởng

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Viên tướng của chính quyền Sài Gòn Ngô Quang Trưởng. Bài viết ngo quang truong vi sao toi bo quan doan tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

Trong gần ba chục năm cuối đời sống nơi đất khách quê người, viên cựu trung tướng này đã luôn im lặng khi được hỏi về quá khứ. Nguyện vọng cuối cùng của ông là sau khi chết được hồi hương. Năm 2008, vợ ông, bà Nguyễn Tường Nhung, con gái nhà văn nổi tiếng Thạch Lam của Tự Lực Văn đoàn, đã đưa tro cốt chồng về Việt Nam và rải ở khu vực quanh đèo Hải Vân…

Bạn Đang Xem: Viên tướng của chính quyền Sài Gòn Ngô Quang Trưởng

Bản năng bộ đội chiến

Ngô Quang Trưởng sinh ngày 13/12/1929 hoặc 1930 tại cù lao Giao Thanh, huyện Mỏ Cầy, bến tre trong một gia đình điền chủ giàu có, gần gụi với chính quyền thực dân. Học xong phổ thông trung học theo chương trình Pháp với bằng tú tài Part 1 tại Cần Thơ, Ngô Quang Trưởng được bổ làm công chức ngoại ngạch ở Mỹ Tho rồi sau đó đã gia nhập khóa 4 trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Tới tháng 6/1954, ông ta ra trường với quân hàm thiếu úy. Trong số 1148 tân sĩ quan của khóa 4, Ngô Quang Trưởng được xếp thứ 162. Cũng phải bảo rằng, khóa 4 trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức (ra trường cùng thời gian với khóa 10 trường võ bị liên quân Ðà Lạt) là một trong những khóa đông nhất và đào tạo nhiều sĩ quan sau này là rường cột của quân đội Sài Gòn.

Thiếu úy Ngô Quang Trưởng đã chọn về lực lượng nhảy dù và và được đưa về làm đại đội trưởng một đại đội trong tiểu đoàn 5. Tiểu đoàn này đã bị bại trận thảm hại trên chiến trường Điện Biên Phủ. May mắn cho viên tướng tương lai của quân đội Sài Gòn là khi đó chiến sự ở Điện Biên Phủ đã chấm dứt nên ông ta không bị ném &o chảo lửa đó và không bị bắt làm tù binh như nhiều đồng đội cùng đơn vị…

Vốn có bản năng bộ đội chiến khá dồi dào, lại mù quáng tin theo những tín điều đã được nhồi nhét trong lực lượng võ binh được ngoại bang nuôi dưỡng, Ngô Quang Trưởng đã khá tận tâm trong việc thực thi các nhiệm vụ quân sự lắm khi mâu thuẫn của mình, giữa những năm tháng mà ở miền Nam liên tục biến động chính trị bởi lợi quyền cá nhân. Dường như Ngô Quang Trưởng không đon đả lắm tới việc ông ta đang phục vụ ai mà chỉ nhất nhất tuân theo những chỉ lệnh của thượng cấp mà “chinh đông chinh tây”: “Tôi chỉ là quân nhân và tôi nhận lệnh từ Tổng tư lệnh” – trong một môi trường quân phiệt mà viên sĩ quan nào cũng nghĩ mình là Napolèon như trong quân đội Sài Gòn, không nhiều viên tướng công khai tuyên bố và làm theo đúng tinh thần như câu nói này của Ngô Quang Trưởng. Ông ta xa lạ với những trăn trở thế sự và chân lý, và bởi vậy, đã có những năm tháng công vụ thuận buồm xuôi gió theo kiểu ai thịnh thì phù.

Tháng 5/1955, trong trận chiến dẹp lực lượng Bình Xuyên năm 1955 tại Sài Gòn, Ngô Quang Trưởng đã bị thương và được thăng lên cấp trung uý. Tới ngày 1/1/1961, Ngô Quang Trưởng được thăng lên cấp đại úy cũng như nhiều viên sĩ quan đồng cấp còn trụ lại được cho tới khi đó và được đưa &o chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù số 5. Năm 1964, Ngô Quang Trưởng được đưa lên cấp thiếu tá. Đến cuối năm 1965, trung tá Ngô Quang Trưởng được đưa &o chức tham mưu trưởng sư đoàn dù, dưới quyền đại tá Dư Quốc Đống là tư lệnh binh đoàn dù…

Tháng 5/1966, miền Trung đã bị cuốn &o những cơn lốc chính sự điên đảo, khiến những kẻ ngồi trong Dinh Độc Lập Sài Gòn cực kỳ bối rối. Các biện pháp thay binh đổi tướng tức tốc như trong vòng ba tháng thay liền tục 6 viên tư lệnh Vùng 1 đã không mang lại kết quả mong muốn. Cực chẳng đã, Ngô Quang Trưởng, khi đó đang là tư lệnh phó lực lượng nhảy dù, dưới quyền chỉ huy của tướng Cao Văn Viên và đại tá Nguyễn Ngọc Loan, đã được cử đi mang theo năm tiểu đoàn nhảy dù và thủy quân lục chiến ra Vùng I để “tái lập chơ vơ tự”. Nhờ chiến tích này mà Ngô Quang Trưởng được thăng chức đại tá tại nhiệm. Tiếp đó, khi chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh và một số sĩ quan cao cấp của Vùng I bị đưa ra hội đồng kỷ luật vì liên quan tới “biến cố miền Trung”, Ngô Quang Trưởng đã được đưa ra Huế thế chân.

Màn ra mắt “cố đô” của tân chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng trên cương vị thủ lĩnh bộ binh vùng 1 đã diễn ra khá hài hước: vốn tiếc nuối sắc phục bộ đội dù, Ngô Quang Trưởng đã định nhảy dù xuống nhiệm sở mới ở Huế nhưng rủi thay, lại rơi xuống sông Hương. bộ hạ phải lái một thuyến máy tới vớt viên sư trưởng mới đang bị ướt lướt thướt như chuột lột lên rồi cưỡi xe Jeep &o Thành Nội nhậm chức, làm trò cười cho thiên hạ…

Xem Thêm  Củ cải trắng là gì? Tác dụng, lưu ý khi ăn, cách chọn củ cải

Xem Thêm : Luộc trứng cút bao lăm phút chín? Mẹo luộc trứng dễ bóc vỏ

Sau Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã lập danh sách thăng cấp tướng cho một số thuộc hạ và Ngô Quang Trưởng được nhận quân hàm thiếu tướng &o mùa thu năm 1968…

Trong một lần nhảy dù tháng 8/1964.

Sùng bái quan thầy

Đầu năm 1970, khi quân đội Sài Gòn chuẩn bị đánh sang lãnh thổ Campuchia, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong một lần nói chuyện với đại tướng Mỹ Abrams đã tiết lộ việc ông ta muốn thay đổi một số tư lệnh sư đoàn và lữ đoàn và hỏi, theo ý kiến của viên đại tướng Mỹ thì ai xứng đáng cho những chức vụ tư lệnh mới? Ðại tướng Abrams nói rằng ông ta không hiểu hay biết nhiều về tâm lý người Việt Nam, nhưng với tất cả sự thiếu hiểu biết của một người Mỹ, thì ông ta cho rằng, Ngô Quang Trưởng là người xứng đáng nhất &o ghế tư lệnh mới. Theo đại tướng Abrams, Ngô Quang Trưởng là một viên tướng có bản lĩnh về mọi mặt, nhất là về bình định nông thôn, một chương trình mà các cố vấn Mỹ đều cho rằng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa bắt buộc phải thực hiện nhanh… Cũng chính Đại tướng Abrams đã cho rằng lính của tướng Trưởng tác chiến trong rừng giỏi hơn quân Mỹ…

Nhìn chung, Ngô Quang Trưởng đã được coi như một viên tướng chiến trường &o loại khác biệt nhất trong quân đội Sài Gòn, vốn có rất phổ biến hiện tượng áp phe trong đội ngũ sĩ quan cao cấp. Gương mặt dửng dưng, khô khan, rất ít biểu lộ cảm xúc con người, tác phong cứng nhắc theo đúng những điều ghi trong điều lệnh, Ngô Quang Trưởng không từ bất cứ việc gì mà ông ta cho là thích hợp với lệnh trên. Khi ra một mệnh lệnh gì đó cho bộ hạ, Ngô Quang Trưởng cũng thường đích thân tới tận nơi kiểm tra thực tế xem mệnh lệnh của mình được thực hiện thế nào. Trong một lần nói chuyện với đại tướng tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên, đại tướng Mỹ Abrams có so sánh lối chỉ huy của tướng Trưởng với lối chỉ huy của một vị tướng tư lệnh sư đoàn khác cũng có bản lĩnh như tướng Trưởng. Tướng Viên cũng đã giải thích cho tướng Abrams về sự khác biệt giữa hai viên tướng quân đội Sài Gòn này: khi tướng Trưởng ra một quân lệnh nào đó, ông ta sẽ đích thân đi ra các cấp đơn vị từ nhỏ đến lớn để coi lệnh của ông ta có được thi hiện không; Ngoài ra viên tướng kia thì cứ để mặc cho tay chân tùy nghi thực hiện…

Ngô Quang Trưởng rất hay lấy các cố vấn Mỹ làm “khuôn &ng thước ngọc”. thông thường, các viên sĩ quan trong quân đội Sài Gòn không đánh giá cáo các ý kiến chỉ đạo của cố vấn Mỹ quen tính “ông kễnh” vì cho rằng những “đồng minh” tới từ bên kia đại dương không thông tỏ tình hình thực tế ở chiến trường Việt Nam. Khi đi cùng với các cố vấn Mỹ, các sĩ quan trong quân đội Sài Gòn thường chỉ thích lợi dụng tình thế bằng cách mỗi khi cần gọi phi cơ hay pháo binh yểm trợ thì được nhanh hơn đáp ứng hơn, đặc biệt là khi thua trận cần máy bay để tải thương. Ngô Quang Trưởng thì lại cho rằng, cố vấn Mỹ mặc dù có thể ít kinh nghiệm thực thế hơn các sĩ quan trong quân đội Sài Gòn nhưng lại được đào tạo bài bản nên chắc là biết được nhiều điều bổ ích trong nghệ thuật chiến tranh. Sự sùng tín mang nặng màu sắc vọng ngoại của Ngô Quang Trưởng lắm khi bộc lộ ra ở những góc độ tức cười. Một sĩ quan quân nhu bộ hạ của Ngô Quang Trưởng khi ông ta còn là đại tá vừa được thăng lên thiếu tướng ra miền Trung làm tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ở Huế đã kể lại một câu truyện nội dung như sau. Một chiều, chánh văn phòng tư lệnh sư đoàn 1 gọi điện gấp cho viên sĩ quan quân nhu yêu cầu cho ngay một thợ may lên trình diện thiếu tướng Ngô Quang Trưởng. Anh này biết ý, cho đúng hạ sĩ B là người thợ mà Ngô Quang Trưởng vẫn thích lên. Khi về anh hạ sĩ này đã giải trình lại thì mới biết, có một đô đốc hải quân Mỹ đến thăm Ngô Quang Trưởng trong một áo jacket quân sự. Ngô Quang Trưởng nhìn áo thấy thích quá nên cũng muốn diện một bộ như thế nhưng áo phải được may bằng vải áo trận màu xanh olive của bộ binh quân đội Sài Gòn. Viên sĩ quan quân nhu hiểu ý sếp nên đã chỉ thị kho xuất vải nylon nguyên cây để may cho Ngô Quang Trưởng cái áo jacket như ý ông ta và bảo lấy tấm pano màu cam (biểu tín hiệu dùng để đánh dấu bãi đáp cho máy bay trực thăng, có hai màu, màu cam và đỏ hường) để làm miếng lót bên phía trong cho đúng với màu vải lót cái jacket của viên đô đốc Mỹ. Nhận được áo, Ngô Quang Trưởng vô cùng thích thú và đi đâu cũng diện, mặc dù theo đó không thể là quân phục của một viên tướng quân đội Sài Gòn. Mê tín cố vấn quan thầy đến như thế có lẽ là “xưa nay hiếm” ngay cả trong quân đội Sài Gòn! Và có lẽ là các cố vấn Mỹ cũng thích được viên tướng ngoan ngoãn này nên thường là đánh giá cao sư đoàn 1 bộ binh trong thời gian Ngô Quang Trưởng làm tư lệnh sư đoàn là “Sư đoàn thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa” (?!) Thậm chí tạp chí “Time” hay “Newsweek” gì đó của Mỹ trong một số ra đầu năm 1975 còn ghi tên Ngô Quang Trưởng &o danh sách 52 nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn tại châu Á trong tương lai (?!) Thật nực cười!

Xem Thêm  ‘Lộ mặt thật’ loạt 8 DJ, ca sĩ, nghệ sĩ đình đám luôn đeo mặt nạ (Kỳ 2)

Với bản chất đa nghi, tổng thống Thiệu dù rất biết đánh giá của các cố vấn Mỹ về Ngô Quang Trưởng nhưng cũng không vội làm theo lời khuyên của họ trong việc chọn lựa viên tướng để đưa lên làm tư lệnh Vùng. Tuy nhiên, giữa năm 1970 đã xảy ra một biến cố buộc ông ta phải đưa ra quyết định của mình. Một biến cố xảy đến bắt ông phải quyết định: Ngày 20/5/1970, thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, tư lệnh Vùng IV chiến thuật bị tử nạn trực thăng trong cuộc hành quân đánh sang lãnh thổ Campuchia. Cực chẳng đã, tổng thống Thiệu bổ dụng thiếu tướng Ngô Dzu thay cho viên trung tướng vừa chết ở Vùng IV. Tuy nhiên, chỉ ba tháng sau, vì một lý do nào đó, tổng thống Thiệu đã đưa tướng Dzu lên coi Vùng II, và chỉ định thiếu tướng Ngô Quang Trưởng về tư lệnh binh đoàn 4 kiêm tư lệnh Vùng 4 chiến thuật. Có lẽ tới khi đó ông ta mới ngấm lời nhận xét của đại tướng Mỹ Abrams chăng?

Chính ở cương vị trên, Ngô Quang Trưởng đã được đưa lên cấp trung tướng. Trong năm 1972 đỏ lửa, Ngô Quang Trưởng đã là con bài nặng ký của Nguyễn Văn Thiệu để gây nên những trận chiến đẫm máu ở Thành Cổ Quảng Trị…

Mùa xuân năm 1975, Ngô Quang Trưởng, lúc đó đang là tư lệnh Vùng 1 chiến thuật, đã bị sử dụng như một bung xung trong những nỗ lực vãn hồi tình hình đầy tuyệt vọng của chính quyền Sài Gòn trước các đợt tấn công như vũ bão của quân giải phóng. Ngô Quang Trưởng đã phải xoay như chóng chóng trước mệnh lệnh bất nhất tới từ Dinh Độc lập và cuối cùng, đã phải bỏ của chạy lấy người lên một con tầu Mỹ để di tản thoát thân. Trong một hồi ức mang nặng tính “thanh nga phân bua” với nhan đề “Vì sao tôi bỏ binh đoàn 1?”, Ngô Quang Trưởng đổ hết mọi việc đắng cay của mùa xuân năm 1975 cho Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta cho rằng, cái lẩm cẩm nhất của những kẻ chóp bu trong chính quyền Sài Gòn lúc ấy là không cho các bộ hạ biết ý định của mình nên họ không thể tìm ra cách hành xử có lý.

Xem Thêm : Bảng nguyên tử khối của các nguyên tố hóa học và bài tập vận

Ngô Quang Trưởng kể: “Ngày 13/3/1975, được lệnh &o Sài Gòn họp. Tôi &o đến Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi &o gặp gỡ gỡ tổng thống và thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra, không có ai khác. Thường lệ, khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị tư lệnh binh đoàn và tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần này, thì chỉ một mình tôi thôi. Tôi câu hỏi lo lắng. Nhưng khi tổng thống Thiệu cho biết dự định của ông ta là phải rút bỏ lữ đoàn 1 ngay hấp ủ nay thì tôi mới vỡ lẽ, đắng cay, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi. Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi, và Đà Nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường sư đoàn dù cùng với thủy quân lục chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi diễn tả cặn kẽ những ý kiến cũng như dự định của tôi lên tổng thống và thủ tướng nhưng không được ưng ý. Lệnh bất di dịch là: Phải rút khỏi lữ đoàn 1 càng sớm càng hay. Trở ra binh đoàn 1, tôi cho triệu tập tất cả các vị tư lệnh sư đoàn, tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng, và các sĩ quan tham mưu lữ đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các sĩ quan trong buổi họp hôm ấp ấp ấp đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rút cục tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn. Chứ làm sao tôi có thể ra lệnh thẳng khi chỉ nói với một mình tôi là tư lệnh binh đoàn mà thôi. vì vậy, cuộc họp hấp ôm đó cũng chẳng mang lại kết quả nào mà tôi mong muốn. Lệnh của tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi quân đoàn 1 &o ngày 13 -3, và rút quân đoàn 2 &o ngày 14/3.

Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy quốc lộ 22 làm ranh giới… Cái lầm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết dự định của mình. Nghĩa là các vị tư lệnh các quân binh chủng, tổng bộ trưởng, tư lệnh sư đoàn, v.v. đã không biết gì về lệnh rút quân của quân đoàn 1 và 2 cả. Lệnh này chỉ có tổng thống, thủ tướng, đại tướng Cao Văn Viên, tôi (tư lệnh Quân Đoàn 1), và tư lệnh Quân Đoàn 2 (tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có cả thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang?” Theo một số nhân chứng trong chính chế độ Sài Gòn, những tài liệu sau này được phát giác cho thấy, không chỉ tổng thống Thiệu mà ngay cả Ngô Quang Trưởng cũng phải chịu trách nhiệm nặng nề về sự sụp đổ nhanh chóng của máy bộ quân sự Việt Nam Cộng hòa trong mùa xuân năm 1975.

Xem Thêm  101 câu hỏi tại sao của trẻ – aFamily

Mặc dù cố tỏ ra là một hảo hán, nhưng Ngô Quang Trưởng đã trở thành trò cười trong mắt của thiên hạ khi hôm ấp trước vừa hùng hồn tuyên bố tử thủ Huế hay Đà Nẵng và hấp ôm sau lại phải tức tốc di tản theo lệnh từ Sài Gòn như một tên hèn nhát sau cùng… Và vì thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, lại không có kế hoạch rút quân đàng hoàng nên mọi sự đã trở nên hỗn loạn. Cuối cùng Ngô Quang Trưởng đã phải đào tẩu khỏi tổ quốc trên chuyến bay do Nguyễn Cao Kỳ lái ra hạm đội 7 của Mỹ đang neo đậu ngoài khơi. mẩu truyện diễn ra như sau: trên đường đào thoát, Nguyễn Cao Kỳ đã ghé &o trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và bắt gặp Ngô Quang Trưởng đang ngồi ở đó, trân trân nhìn bảo đồ và hút thuốc. hiện nay tại đây đã rất vắng người vì đa phần nhân sự đều mạnh ai nấy chạy. Thế là Nguyễn Cao Kỳ rủ Ngô Quang Trưởng lên máy bay để di tản cùng mình… Vợ con ông ta phải chạy thoát thân khỏi Việt Nam bằng tàu thủy.

Gia đình họ đã gặp lại nhau trong trại tị nạn trên đảo Guam. ban đầu chẳng có ai bảo lãnh họ cả. Rồi một hôm có một đại tá Mỹ tới đón gia đình Ngô Quang Trưởng, nói là làm theo lệnh của tướng Cushman, người từng là cố vấn ở Vùng 4 trong chiến tranh ở Việt Nam (nơi Ngô Quang Trưởng từng là tư lệnh). Viên đại tá Mỹ đưa gia đình Ngô Quang Trưởng về trường chỉ huy tham mưu Leavenworth, nơi tướng Cushman đang là giám đốc. Tướng Cushman đã cho gia đình Ngô Quang Trưởng tạm tá túc trong nhà của mình. Theo lời kể của bà Nguyễn Tường Nhung, trong giai đoạn đó, ngoài việc giúp ăn ở trong nhà, tướng Cushman không giúp đỡ tiền bạc tình gì cho họ cả. Rốt cuộc, Ngô Quang Trưởng cùng người con trai tên Diệp mở màn đi học nghề nông ở một nông trại. Một đại úy Mỹ cho mượn chiếc xe Honda. Ngô Quang Trưởng và con trai hàng ngày chở nhau đi học nghề ở một nông trại. Bà Nguyễn Tường Nhung rời nhà ông Cushman sang tiểu bang Virginia trước. Ngô Quang Trưởng và con trai ở lại nhà viên tướng Mỹ thêm 1 thời gian nữa. Cuối cùng họ chuyển đến định cư tại Falls Church Virginia, miền Đông nước Mỹ.

Trên đường di tản ra tàu sân bay năm 1975.

Ngày tàn ly xứ

Duyên số tình cờ đã giúp Ngô Quang Trưởng trở thành con rể của nhà văn Thạch Lam. Tác giả “Gió đầu mùa” mất từ năm 1942 ở tuổi 32, để lại người vợ trẻ cùng ba con nhỏ. Họ đã về quê ở Cẩm Giàng sống một thời gian rồi di cư &o Nam…

Người con gái cả của nhà văn, Nguyễn Tường Nhung, &o những năm 60 của thế kỷ trước, đã là một thiếu nữ xinh đẹp. Theo dư luận ở Sài Gòn lúc đó, từ khi lấy được Nguyễn Tường Nhung, hoạn lộ của viên sĩ quan dù Ngô Quang Trưởng trở nên hanh thông mau lẹ. Hai vợ chồng đã có với nhau sáu người con, bốn trai hai gái…

nhằm nhò nỗi nhục của một bại tướng sống lưu vong, trên đất Mỹ, Ngô Quang Trưởng không hay xuất hiện trước đám đông để nói về quá khứ và ít khi trở lại với những nhận xét về lực lượng đã từng khiến ông ta thua cuộc. Ông ta từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn và không xuất hiện ở những chỗ đông người. Những bộ sách mà Ngô Quang Trưởng đã viết ở Mỹ theo yêu cầu của Trung tâm Lịch sử quân sự Mỹ thường thiên về những phân tích thuần tuý quân sự thấm đẫm những nỗi niềm cay đắng mù sa.

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *