Nhà Nguyễn với chế độ đồn điền ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX

Chúng tôi rất vui được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Nhà Nguyễn với chế độ đồn điền ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX. Bài viết vi sao chinh sach quan dien thoi nguyen khong dat hieu tập trung giải thích ý nghĩa, vai trò và ứng dụng của từ khóa này trong tối ưu hóa nội dung web và chiến dịch tiếp thị. Chúng tôi cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích từ khóa, kèm theo chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút người dùng.

thế cho nên, song song với việc dùng biện pháp quân sự và hành chính để đàn áp và khống chế nhân dân, các vua triều Nguyễn đều đặc biệt chú trọng đến việc khẩn hoang, coi đó là một biện pháp tích cực nhất đưa dân &o công việc sản xuất, giải quyết được nạn dân lưu tán, giảm bớt mâu thuẫn xã hội, đồng thời lại có thể tăng thêm diện tích trồng trọt và tăng thêm thu nhập cho nhà nước.

Bạn Đang Xem: Nhà Nguyễn với chế độ đồn điền ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX

“Trong việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang, triều đình Nguyễn đặc biệt chú ý đến Nam Bộ. Đó là vì nơi đây còn nhiều đất hoang có thể khai phá để trồng trọt. Từ 1802 đến 1855, triều Nguyễn đã liên tiếp cho ra đời 25 quyết định về khai hoang trong đó có 16 quyết định áp dụng ở Lục tỉnh, 2 ở Bắc thành và 6 đối với toàn nước”1.

Để đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang, triều Nguyễn đã dùng nhiều biện pháp khác nhau. Bên cạnh khuyến khích nhân dân tự do khẩn hoang, lập làng mới, các vua Nguyễn còn cắt cử quan lại đứng ra tổ chức cho dân chúng, binh lính, tù phạm khai hoang qua bề ngoài đồn điền.

Đồn điền là bề ngoài khai hoang kết hợp kinh tế với quốc phòng. Địa điểm lập đồn điền thoả mãn hai điều kiện: nơi xung yếu về quân sự và có tiềm năng đất đai để khai hoang. Cụ thể là do yêu cầu về phát triển sản xuất và yêu cầu về chính trị, quân sự ở vùng biên thuỳ trong đối nội và cả đối ngoại. Trong đó yêu cầu về kinh tế là nhân tố lâu dài và căn bản nhất.

Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã cho lập đồn điền ở cả bốn phủ thuộc Gia Định thành: phủ Tân Bình (tức trấn Phiên An), phủ Phước Long (tức trấn Biên Hoà), phủ Định Viễn (tức trấn Vĩnh Thanh), phủ Kiến An (tức trấn Định Tường), có nghĩa là trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định. Sang triều Minh Mạng, đồn điền còn phát triển hơn triều Gia Long, và được lập ở nhiều nơi, đặc biệt là ở vùng biên thuỳ như Hà Tiên, Trấn Tây Thành, hải đảo Côn Lôn. Dưới triều Thiệu Trị không biết vì lẽ gì việc lập đồn điền bị đình chỉ, nhưng sang triều Tự Đức, việc lập đồn điền lại được chú trọng. Nguyễn tri Phương được giao nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền và chỉ trong 1 thời gian rất ngắn (khoảng 1 năm), 25 cơ đồn điền, mỗi cơ khoảng trên 100 người, được lập lên trên toàn lãnh thổ Nam Bộ.

Xem Thêm  Phân tích người đàn bà hàng chài trong Chiếc … – Luật Dương Gia

bando

Bản đồ Nam Kỳ lục tỉnh triều Nguyễn

Xem Thêm : Định lượng kháng thể Covid-19 bao lăm là đủ để chống lại virus

Bên cạnh việc khuyến khích khẩn hoang lập làng mới, lập đồn điền, tổ chức sản xuất, các vua Nguyễn cũng đã chú ý đến việc tổ chức quản lí ruộng đất nhằm tăng cường hiệu lực quản lí của nhà nước, trong đó có đồn điền ở Nam Bộ. Vì thế, năm 1836 Minh Mạng thực hiện một số quyết định lớn: đo lại toàn bộ ruộng đất Nam Kì và lập sổ địa bạ các làng xã ở đây. Kế hoạch được triển khai nhanh và đạt kết quả rất chất lượng có thể. Điều đáng chú ý trong địa bạ Nam Kì (1836) là ngoài những thông tin chủ yếu về tình hình ruộng đất, còn có cước chú thêm nguồn gốc các loại ruộng đất. Như, ở mục tư điền, tư thổ địa bạ không chỉ ghi tên chủ sở hữu mà còn ghi rõ tên chủ sở hữu trước đó. Hay ở mục công điền, công thổ; công thổ viên địa bạ cho biết thêm một số trường hợp nguyên trước là thuộc sở hữu tư nhân nhưng do chủ sở hữu ruộng đất đã chết mà không có người thừa tự nên trở thành ruộng đất công. Ngoài ra sự thay đổi loại hình ruộng đất (ruộng thành đất, đất thành ruộng, từ trồng lúa sang trồng màu…) cũng được ghi chú rõ ràng1.

Nhìn lại hơn nửa thế kỉ thực hiện chế độ đồn điền của nhà Nguyễn ở Nam Bộ trong nửa đầu thế kỉ XIX đã mang lại những kết quả tích cực trên nhiều mặt, thoả mãn được nhiều mục tiêu mà các vua đầu triều Nguyễn mong muốn thực hiện: Nam Kì đất bao la, người thưa và là khu vực chủ yếu để phát triển chế độ đồn điền. Điều này có 4 điều lợi: Mở bao la diện tích canh tác ruộng đất, khai phá đất hoang, tăng sản lượng lương thực; tăng thêm thu nhập của nhà nước; đảm bảo quyền thống trị của nhà nước trên vùng đất mới đồng thời đảm bảo việc trị an ở địa phương; giải quyết 1 phần quân lương vùng biên cương và lương thực cho tù phạm.

Mặt khác, thực hiện chế độ đồn điền ở thời kì này còn cho phép nhà Nguyễn giải quyết được những vấn đề bức xúc của xã hội như vấn đề dân nghèo không ruộng đất, phiêu tán, góp phần giảm bớt những mâu thuẫn xã hội vốn đã gay gắt từ các thế kỉ trước. Ưu điểm của chính sách này là có thể huy động được đủ mọi loại người, dù không có một tấc sắt trong tay, đều có thể lập nghiệp được. Nhà nước sẽ cấp, hay nói đúng hơn, cho vay hoặc cho thuê trước các loại trâu bò nông cụ, lúa giống và các phương tiện khác. Như thế những người không có đất trở thành có đất, ruộng đồng trong nước phát triển về số lượng và khoản thuế thu cho triều đình tăng tiến không ngừng. Qua công cuộc tổ chức và khuyến khích khẩn hoang, rõ ràng triều Nguyễn có sự ân cần nhất định đến việc hồi sinh và phát triển sản xuất nông nghiệp thông qua chính sách đẩy mạnh khẩn hoang chứ không phải là ngược lại như một số nhà sử học trước đây đã nói1.

Các vua Nguyễn đã biết lựa chọn và tổ chức các hiệ tượng khẩn hoang phù hợp với vùng đất mới, với điều kiện địa lí tự nhiên và lịch sử xã hội của vùng đất này, trong đó bề ngoài khẩn hoang lập đồn điền đóng vai trò quan trọng. Bởi vì, mặc dù đã được khai phá từ mấy thế kỉ trước nhưng đến đầu thế kỉ XIX vùng đất Đồng Nai – Gia Định vẫn còn một diện tích đáng kể chưa được khai phá. Đó là những vùng đất hoang hoá, sình lầy, lau sậy, đất nhiễm mặn, vùng đất biên giới hẻo lánh… Việc lựa chọn và tổ chức hiệ tượng khẩn hoang lập đồn điền cho phép các vua Nguyễn chủ động đẩy nhanh công cuộc khai phá, khi có trong tay lực lượng binh bộ đội, tù binh, phạm nhân, kể cả dân lưu tán; đồng thời qua đó nhanh chóng cài đặt máy bộ hành chính, xác lập chủ quyền quốc gia lãnh thổ đối với vùng đất mới khai phá, vùng biên giới. Như vậy nhà Nguyễn trên thực tế đã từng bước hoàn tất và củng cố nền thống nhất quốc gia.

Xem Thêm  Vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch tại Tây Nguyên

Chế độ đồn điền cũng góp phần giải quyết những vấn đề xã hội của Nam Bộ ở nửa đầu thế kỉ XIX: “Dân Gia Định phần nhiều là dân giang hồ trú ngụ, đặt ra đồn điền là để dồn bọn du thủ cho nương tựa &o đồng ruộng”. Đồn điền còn là hạt nhân quy tụ ban đầu để dân chúng đi đến một địa phương để khai phá, sản xuất, thiết lập xóm ấp. Đúng như lời Nguyễn Tri Phương nói lúc bấy giờ: “Đất Nam Kì dân xiêu tán nhiều. Nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về đốc việc khai khẩn để nuôi dân ăn, thật là 1 cách quan yếu để giữ giặc và an dân”.

Việc thực hiện chế độ đồn điền ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX là góp phần quan trọng &o việc củng cố và phát triển quyền sở hữu nhà Nguyễn về ruộng đất. Việc chủ trương hồi sinh, củng cố và mở rộng ruộng đất công các khu vực quản lí trực tiếp của nhà nước trước tình hình ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp là một chủ trương đúng của các vua đầu triều Nguyễn. Bởi vì, sở hữu nhà nước là cơ sở kinh tế – xã hội kiên cố đảm bảo cho ổn định và tồn tại của chế độ.

Qua việc thực hiện chế độ đồn điền và chính sách khai hoang, phục hoá đã mở rộng tối đa diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp và tăng nguồn sản phẩm nông nghiệp đáng kể cho nhà Nguyễn trong những thập kỉ đầu xây dựng triều đại, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định trật tự xã hội.

Chế độ đồn điền bản chất là một biện pháp cai trị đô hộ cuả triều Nguyễn ở Nam Bộ trên hai lĩnh vực lớn là đất đai và con người; tạo cơ sở kiên cố cho nhà Nguyễn duy trì được trị an, tăng cường bản lĩnh quản lí đất nước minh mông và tăng thêm sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc phòng, biên giới; giảm thiểu một phần lớn việc cung cấp gạo, tiền cho quân đội và lương thực để nuôi tù phạm.

Bên cạnh mặt tích cực của chế độ đồn điền thời Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX ở Nam Bộ là chính, chế độ đồn điền cũng có những mặt hạn chế làm bộc lộ bản tính của nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến Nguyễn.

Xem Thêm : Tại sao loài người thống trị thế giới? – Spiderum

Quan hệ sản xuất trong các đồn điền là quan hệ bóc lột địa chủ – tá điền theo hình thức phát canh thu tô, địa chủ ở đây là nhà nước Nguyễn.

bản chất của chế độ đồn điền là việc thực hiện và bảo vệ chế độ sở hữu của nhà nước phong kiến Nguyễn về ruộng đất. Chính sách phát triển đồn điền hoàn toàn phù hợp với đường lối ruộng đất của triều Nguyễn, đường lối phát triển các hình thức sở hữu nhà nước về ruộng đất làm cơ sở cho chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế.

Xem Thêm  Hướng dẫn cách chặn cuộc gọi đến từ số lạ trên điện thoại Android

Chế độ thu nộp sản phẩm trong các đồn điền, trong từng triều vua Nguyễn có chú ý cải tiến giảm nhẹ nhưng nhìn chung vẫn còn nặng nề, không hợp lí, đóng góp của lực lượng sản xuất trong đồn điền cao 2 lần so với người dân sản xuất trong xóm ấp. Binh điền và dân điền cũng có sự khác nhau trong nghĩa vụ giao nộp sản phẩm làm ra.

Việc quân sự hoá chế độ đồn điền làm hạn chế tính tự giác, tinh thần tự do lao động chính trên mảnh đất do họ khai phá nên do đó đã có bộ phận dân đồn điền bỏ trốn và bị nhà nước truy nã, bắt phạt làm những công việc nặng nhọc vất vả hơn…

Tóm lại, mặc dù tồn tại một số hạn chế nhất định nhưng chế độ đồn điền được các vua đầu triều Nguyễn thực hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX mang nhiều ý nghĩa tiến bộ, tích cực, hiệu quả mang lại nguồn lợi to lớn ở trên nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội, chính trị – quân sự.

1 Vũ Huy Phúc: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, NXB Khoa học Xã hội, 1979, tr. 128.

1 tham khảo thêm Trương Hữu Quýnh – Đỗ Bang (CB): Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn, NXB Thuận Hoá, Huế, 1997, tr. 5- 27.

1 đọc thêm: Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính: Lịch sử Việt Nam (1858 – cuối thế kỉ XIX), NXB Giáo dục, HN, 1976, Q.3, Phần I, tr. 11 – 14. Lịch sử Việt Nam – Tập II của UBKHXHVN, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985, tr. 24 – 26.

 

Nguồn: https://kengencyclopedia.org
Danh mục: Hỏi Đáp

Recommended For You

About the Author: badmin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *